20141116171412
Ai theo dõi trang này
Mời quảng cáo

Thế giới phẳng

Bài từ Tủ sách Khoa học VLOS

Thegioiphang.jpg

Quyển Thế giới phẳng của Thomas Friedman, bình luận viên nổi tiếng của tờ New York Times, vừa được dịch ra tiếng Việt (1) đã gây xôn xao không ít trong dư luận. Thực ra đây không phải là một công trình nghiên cứu về toàn cầu hóa, mà là một dạng bút ký xen với bình luận, trong đó chứa đựng nhiều mẩu chuyện sinh động do chính tác giả ghi nhận qua các chuyến đi của mình nhằm mục tiêu giải thích quá trình toàn cầu hóa, thể hiện dưới bút pháp hấp dẫn của một nhà báo.


Ở Mỹ, ngay sau khi ra đời vào đầu năm 2005, nó đã nhanh chóng trở thành một cuốn bestseller và nhận được cả những lời tán dương lẫn những lời phê phán. Bài viết sau đây muốn điểm lại một vài ý kiến phê phán mà chúng tôi cho là đáng chú ý khi đọc cuốn sách này.


Mục lục

Toàn cầu hóa hay “Mỹ hóa”?

Theo Friedman, lịch sử toàn cầu hóa của thế giới đã trải qua ba giai đoạn. Lần đầu kể từ năm 1492 khi khám phá ra châu Mỹ cho tới khoảng năm 1800, với vai trò quan trọng của các quốc gia và của sức mạnh cơ bắp. Lần thứ hai từ năm 1800-2000, với vai trò động lực của các công ty đa quốc gia và sự ra đời của động cơ hơi nước và đường sắt. Và lần thứ ba kể từ năm 2000 trở lại đây, lần này với động lực là các cá nhân được kết nối với mạng lưới cáp quang toàn cầu [xem bản dịch, tr. 25-27]. Chính là ở giai đoạn thứ ba này đã hình thành nên cái mà Friedman gọi là “hệ thống thế giới phẳng”.


Luận điểm chính của cuốn sách là cho rằng thế giới đang được “làm phẳng” (flattening), nghĩa là một thế giới trong đó con người ngày càng kết nối với nhau do các thành tựu của tin học, Internet, các công cụ tìm kiếm trên mạng và các công nghệ khác. Nhờ đó, các công ty đa quốc gia bây giờ có thể xây dựng những chuỗi cung ứng và đặt gia công (outsourcing) ở tận Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, nơi mà các nhân viên và lập trình viên có thể làm việc trực tuyến cho những công ty có trụ sở mãi tận Hoa Kỳ...


Mặc dù cuốn sách dày tới mấy trăm trang, nhưng Friedman lại không đưa ra được một định nghĩa xác đáng xem thế nào là “thế giới phẳng”, thế nào là “toàn cầu hóa”, mà chỉ nói đi nói lại hàng trăm lần cái từ “phẳng”, làm như thể ông ta mới phát hiện ra một sự thật mới mẻ trong khi người ta đã bàn luận về các đặc điểm của quá trình toàn cầu hóa từ lâu.


Theo GS. Jean-Jacques Salomon (2), tác giả đã quá giản lược hóa sự phân kỳ lịch sử đến mức chỉ còn quan tâm tới thế giới kinh doanh và vai trò của các đại công ty mà quên đi những thực tại vô cùng phức tạp khác của thế giới như đời sống công nghiệp, như vai trò của các quốc gia, của các lực lượng xã hội hay tôn giáo. Salomon cho rằng cái nhìn thiển cận của tác giả Thế giới phẳng đã dẫn ông ta đến chỗ lầm lẫn giữa quá trình toàn cầu hóa với quá trình “Mỹ hóa” (américanisation).


Vốn nhiệt tình ủng hộ lý thuyết tân tự do kinh tế, Friedman không chỉ kêu gọi các nước nghèo hãy tự do hóa kinh tế vì “các thị trường mở và cạnh tranh là phương thức bền vững duy nhất để đưa một quốc gia thoát khỏi nghèo đói” [tr. 577], ông còn có khuynh hướng coi nước Mỹ là kiểu mẫu phát triển duy nhất đúng đắn trên thế giới ngày nay.


Theo Salomon, do chỉ tiếp xúc với những chuyên gia thuộc tầng lớp ưu tú ở các nước, Friedman tưởng rằng ở đâu người ta cũng nói cùng một thứ ngôn ngữ, sống, vui chơi và làm việc giống như nhau khi ông ta nhìn thấy những bảng hiệu IBM, Microsoft, HP, Texas Instruments hay cái mũ có nhãn 3M trong sân golf ở Bangalore - một thung lũng Silicon của Ấn Độ. Ông quên rằng chỉ cần bước ra ngoài cái hàng rào của những cái lõm công nghệ cao của các công ty đa quốc gia ấy thì người ta có thể chứng kiến ngay lập tức những thực tại khốn khổ của sự nghèo đói, thất học và phân hóa xã hội của một đất nước đông hàng tỷ người này.


Theo Michael Sandel (Đại học Harvard), lối nói về sự hợp tác hàng ngang trong thế giới phẳng thực ra “chỉ là một cái tên hoa mỹ để gọi khả năng thuê mướn nhân công rẻ ở Ấn Độ” (3). Roberto Gonzalez, Giáo sư nhân học tại San Jose State University, cho rằng mục tiêu của cuốn sách của Friedman là “quảng cáo” cho một lối sống, đề cao một thế giới quan chỉ biết tôn vinh các công ty đa quốc gia và ca ngợi một xã hội tiêu thụ, coi đấy là những con đường duy nhất để đi tới sự tiến bộ xã hội (4).


“Thế giới phẳng” làm cho thế giới bớt xung đột?

Mặc dù cho rằng thế giới phẳng “khiến cho các xã hội và nền văn hóa khác nhau tiếp xúc trực tiếp với nhau nhiều hơn” và “kết nối người ta lại với nhau” [tr. 687], nhưng Friedman cũng nhìn nhận sự xuất hiện của những tổ chức khủng bố Hồi giáo cực đoan.


Ông hiểu sai hoàn toàn về lịch sử văn minh của các nước A-rập Hồi giáo, và giải thích sở dĩ có “sự giận dữ” chống Mỹ hiện nay chính là vì người ta “gần gũi nhau” và dễ dàng so sánh mình với người khác [tr. 688], và vô hình trung ông lại đi đến một nhận định nghịch lý với chính mình khi nói “quá trình phẳng hóa thế giới chỉ làm tăng thêm sự bất hòa này” [tr. 696]. Như vậy phải chăng ông hàm ý nói rằng cần phải “phẳng hóa” hay đồng nhất hóa theo mô hình của Mỹ thì mới là một sự “phẳng hóa” đúng đắn?


Friedman còn đề ra cái mà ông gọi là “lý thuyết Dell về ngăn ngừa xung đột”, cho rằng “không có hai quốc gia nào cùng nằm trong một dây chuyền cung ứng toàn cầu, như dây chuyền Dell chẳng hạn, sẽ gây chiến với nhau, chừng nào họ vẫn còn ở trong cùng dây chuyền đó” [tr. 745]. Có lẽ ông quên rằng trong thực tế lịch sử thế giới, những nước sắp gây chiến luôn luôn tính toán hơn thiệt các chi phí do cuộc chiến gây ra, và nếu thấy có lợi hơn thì họ vẫn đánh, cho dù giữa hai nước đã có những mối quan hệ thương mại hay những “dây chuyền” cung ứng như thế nào đi nữa (5).


Quyết định luận kỹ thuật

Friedman định nghĩa “hệ thống thế giới phẳng” là “sản phẩm của sự hội tụ giữa máy tính cá nhân (...) với cáp quang (...) và phần mềm xử lý công việc (cho phép các cá nhân trên khắp thế giới cộng tác trên cùng cơ sở dữ liệu số, bất kể từ nơi đâu với khoảng cách như thế nào)” [tr. 27]. Cũng theo chiều hướng này, trong chương 2, ông trình bày 10 nhân tố “làm phẳng” thế giới, trong số đó nhiều cái đều ít nhiều liên quan tới máy tính, Internet và các phương tiện truyền thông. Theo ông, chính nhờ sự bùng nổ về công nghệ thông tin mà quá trình toàn cầu hóa phiên bản 3.0 làm cho “các cá nhân từ mọi ngõ ngách của thế giới phẳng đều được trao quyền” [tr. 28].


Friedman nhìn nhận ông ta “đã tuyệt đối hóa sức mạnh của công nghệ” [tr. 660]. Cách nhìn đề cao cực đoan vai trò của kỹ thuật trong việc tạo ra “thế giới phẳng” dẫn ông ta đến chỗ quan niệm rằng sự phát triển của công nghệ thông tin có thể “trao quyền” cho cá nhân, làm như thể chỉ cần có chiếc máy tính và Internet thì các cá nhân kể từ nay có thể làm chủ được số phận của mình cũng như được tham gia một cách bình đẳng vào đời sống toàn cầu!


Friedman đã nhầm lẫn khi nghĩ rằng nhân tố kỹ thuật đóng vai trò quyết định đối với sự chuyển biến của cấu trúc xã hội cũng như của các lĩnh vực văn hóa và chính trị. Quan niệm của Friedman thực chất phản ánh lý thuyết quyết định luận kỹ thuật ngây thơ và ảo tưởng mà nhiều người từng mắc phải mỗi khi xuất hiện một loại kỹ thuật mới, tương tự như khi ra đời đài phát thanh hay truyền hình vào nửa đầu thế kỷ 20. Điển hình là quan niệm của nhà nghiên cứu nổi tiếng về truyền thông, Marshall McLuhan, từng cho rằng các phương tiện truyền thông điện tử có thể làm cho thế giới hiểu biết nhau hơn, gắn kết và gần gũi nhau giống như trong một “ngôi làng toàn cầu” (6).


Chính vì rơi vào quan niệm giản lược hóa yếu tố kỹ thuật mà Friedman đã không trả lời được cho vấn nạn mà Bill Gates đặt ra, khi Gates nói: “Phải, thế giới đã nhỏ đi, nhưng có phải nhờ thế mà chúng ta nhìn thấu được điều kiện sống của mọi người không? Hay là thế giới vẫn còn rộng lắm, đến nỗi chúng ta vẫn chưa thể thấy hết hoàn cảnh nghèo khổ của người khác” [tr. 668], và “tôi lo rằng sẽ chỉ có một nửa thế giới trở nên phẳng và tình trạng đó sẽ không thay đổi” [tr. 667]. Lúc này, chúng ta mới thấy Friedman buộc phải thoát ra khỏi phần nào quan điểm quyết định luận kỹ thuật khi nói, một cách rất chung chung và mơ hồ, rằng: “Lối thoát duy nhất giờ đây là sự hợp tác giữa các phần phẳng và không phẳng của thế giới” [tr. 668].


Nhận xét chung về cuốn sách, một bài điểm sách trên tờ The Economist cho rằng Thế giới phẳng của Thomas Friedman là một sự “thất bại ảm đạm”, vấn đề không phải là thiếu các chi tiết, mà là có quá ít cái để nói thông qua các chi tiết ấy, và tác giả lúc nào cũng lặp đi lặp lại rằng thế giới này đang nhỏ đi, quá trình này là không thể tránh khỏi, bao nhiêu thứ đang thay đổi, và chúng ta không nên sợ điều này...(7) Còn GS. Roberto Gonzalez thì đánh giá nặng nề hơn, cho rằng đây là một cuốn sách “thông tin sai lạc về văn hóa, thiếu sót về lịch sử và nghèo nàn về trí tuệ” .


Khi so sánh mình với Kha-luân-bố (Colombo), người đã khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492 mà cứ tưởng là mình khám phá ra Ấn Độ (vì thế mới gọi người da đỏ là “Indians”), Friedman cho rằng mình đã khám phá ra “thế giới phẳng” khi đến Ấn Độ - nhưng có lẽ chính ông cũng một lần nữa lại rơi vào ngộ nhận vì thế giới này thực ra không hề phẳng như ông ta mong muốn!

Các dịch giả bao gồm: Cao Việt Dũng, Nguyễn Tiên Phong và Nguyễn Văn A. Xin chân thành cảm ơn các dịch giả đã mang đến cho chúng ta một tác phẩm mới rất có giá trị. Đây là một cuốn sách rất bổ ích, rất đáng nên đọc, đặc biệt là giới trẻ.



  1. Thomas L. Friedman, Thế giới phẳng. Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ 21 (nhóm dịch và hiệu đính: Nguyễn Quang A, Nguyễn Hồng Quang, Vũ Duy Thành, Lã Việt Hà, Lê Hồng Vân, Hà Thị Thanh Huyền), TPHCM, NXB Trẻ, 2006, 818 trang.
  2. Xem Jean-Jacques Salomon, “La Terre nest pas plate”, Futuribles, số 322, 9-2006, tr. 47-58.
  3. Xem Warren Bass, “The Great Leveling”, Washington Post, 3-4-2005, trang BW03.
  4. Xem Roberto J. Gonzalez, “Falling Flat”, San Francisco Chronicle, 15-5-2005.
  5. Xem Warren Bass, bài đã dẫn.
  6. Xem Trần Hữu Quang, Xã hội học báo chí, TPHCM, NXB Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Trung tâm Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, 2006, tr. 373-377.
  7. Xem bài “Confusing Columbus”, The Economist, 31-3-2005.

Mục lục

Tóm tắt Lịch sử Thế kỉ Hai mươi Mốt

INDIA (ẤN ĐỘ) ĐỐI LẠI INDIANA: AI BÓC LỘT AI?

CÁC CÔNG TI DỪNG VÀ BẮT ĐẦU Ở ĐÂU? TỪ CỘNG MỆNH LỆNH VÀ CHỈ HUY ĐÉN CỘNG TÁC VÀ LỜI NÓI NHIỀU RỐI LOẠN BẢN SẮC AI SỞ HỮU GÌ? CÁI CHẾT CỦA NHỮNG NGƯỜI BÁN HÀNG

Ricardo Vẫn còn Đúng?

BÍ MẬT NHỎ KHÓ CHỊU # 1: LỖ HỔNG SỐ LƯỢNG BÍ MẬT NHỎ KHÓ CHỊU # 2: LỖ HỔNG HOÀI BÃO BÍ MẬT NHỎ KHÓ CHỊU # 3: LỖ HỔNG GIÁO DỤC

SỰ LÃNH ĐẠO CƠ BẮP MỠ TỐT - GIỮ LẠI NHỮNG CÁI ĐÁNG GIỮ CHỦ NGHĨA TÍCH CỰC XÃ HỘI NUÔI DẠY CON CÁI

TỰ XEM XÉT TÔI CÓ THỂ BÁN BUÔN CHO BẠN TÔI CHỈ CÓ THỂ BÁN LẺ CHO BẠN VĂN HOÁ LÀ QUAN TRỌNG: GLOCALIZATION NHỮNG ĐIỀU VÔ HÌNH

Quy tắc #1: Khi thế giới trở nên phẳng Quy tắc #2: Và bé sẽ hành động lớn… Quy tắc #3: Và lớn sẽ hành động bé… Quy tắc #4: Các công ti tốt nhất là những người cộng tác tốt nhất. Quy tắc #5: Trong một thế giới phẳng, các công ti tốt nhất mạnh khoẻ nhờ thường xuyên chụp X-quang ngực và sau đó bán kết quả cho các khách hàng của mình Quy tắc #6: Các công ti giỏi nhất outsource để thắng, không phải để co lại. Quy tắc #7: Outsourcing không chỉ cho Benedict Arnolds. Nó cũng cho những người lí tưởng chủ nghĩa Địa Chính trị và Thế giới Phẳng

Cấm súng và điện thoại di động QUÁ ỐM YẾU QUÁ THIẾU QUYỀN QUÁ THẤT VỌNG QUÁ NHIỀU XE TOYOTA

Thời Xưa đối lại Kịp-Thời [Just-in-Time] INFOSYS ĐỐI LẠI AL-QAEDA QUÁ BẤT AN VỀ MẶT CÁ NHÂN

EBAY ẤN ĐỘ TAI HOẠ TỪ DẦU MỎ CHỈ MỘT TẤM GƯƠNG TỐT TỪ CÁC TIỆN DÂN ĐẾN NHỮNG NGƯỜI KHÔNG THỂ ĐỤNG ĐẾN

Liên kết đến đây

 
Gõ tiếng Việt có dấu:
(Hỗ trợ định dạng wikitext)
Công cụ cá nhân