Nhận biết bệnh mụn rộp

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Mụn rộp là bệnh do virus Herpes Simplex gây ra, loại virus này có hai biến thể là HSV-1 và HSV-2. HSV-1 thường biểu hiện dưới dạng vết loét lạnh hay còn gọi là vết lở miệng, nhưng đôi khi có thể xuất hiện trên bộ phận sinh dục. HSV-2 chính là virus gây ra bệnh mụn rộp sinh dục, là loại virus lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất tại Mỹ gây nhiễm trùng da và màng nhầy, trực tràng, mắt và hệ thần kinh trung ương. Mụn rộp là bệnh không thể chữa khỏi và người bệnh phải sống với nó suốt cuộc đời.[1] Bạn nên thực hiện các bước đơn giản sau để biết mình đã nhiễm loại virus này chưa.

Các bước

Tìm dấu hiệu bệnh mụn rộp

  1. Chú ý các vết thương ngứa. Cách cơ bản để nhận biết bạn có bị mụn rộp sinh dục hay không là quan sát các vết thương xuất hiện trên khu vực bộ phận sinh dục. Chúng thường xuất hiện sau khi nhiễm trùng khoảng 6 ngày. Vết thương do virus HSV-1 gây ra chủ yếu xuất hiện ở trên hay trong miệng, trong khi virus HSV-2 tạo ra vết thương trên đùi, mông, trực tràng và đáy chậu. Đối với phụ nữ chúng còn xuất hiện trên âm hộ, môi âm hộ, đường vào âm đạo và cổ tử cung, với nam giới thì xuất hiện trên các tuyến của dương vật, thân dương vật và trong niệu đạo.
    • Ban đầu các vết đỏ xuất hiện thành từng cụm trên khu vực nhiễm trùng,[2] gây đau với cảm giác nóng và ngứa trong vài giờ đầu tiên sau khi biểu lộ ra ngoài.[3].
  2. Chú ý các triệu chứng thực thể khác. Thời gian đầu khi các vết thương mới xuất hiện, bạn thường gặp những triệu chứng như nhức đầu, mệt mỏi, sốt và sưng hạch bạch huyết tại khu vực bộ phận sinh dục (các hạch này nằm bên trên và ở hai bên bộ phận sinh dục).[4] Bạn cũng có thể gặp một số triệu chứng khác vì cơ thể đang chiến đấu chống lại virus Herpes.[5].
    • Tương tự như triệu chứng bệnh cúm là sốt, đau nhức chung chung và khó chịu.[6]
  3. Chú ý khi vết thương chuyển thành vết loét. Tùy từng trường hợp cụ thể mà các vết thương ngứa sẽ bắt đầu thay đổi sau vài giờ đến vài ngày. Từ vết thương nóng và ngứa, chúng chuyển thành vết loét rộp rỉ dịch, hình thành các mảng hoặc dải dài và bắt đầu tiết dịch giống như mủ.
    • Chất dịch này có màu vàng nhạt và rướm máu.[7].
  4. Lưu ý dấu hiệu cải thiện. Cuối cùng vết loét bắt đầu đóng vảy, không lâu sau đó da xung quanh vết loét sẽ lành và mọc da mới không ngứa hay đau. Vết loét thường lành mà không để lại vết sẹo, với thời gian lành tùy thuộc vào độ nặng của đợt bùng phát trước đó.
    • Những triệu chứng này là dấu hiệu của đợt bùng phát bệnh ban đầu, và luôn luôn nặng hơn các đợt bùng phát sau đó. Đợt bùng phát đầu tiên thường kéo dài từ 2-6 tuần, những đợt sau trung bình chỉ kéo dài khoảng 1 tuần.[8]

Chẩn đoán y khoa

  1. Tìm hiểu các loại virus. Có hai biến thể virus cùng được gọi là Herpes Simplex. Virus HSV-1 là nguyên nhân gây ra vết lở miệng mặc dù cũng có thể gây ra mụn rộp sinh dục.[9] HSV-2 là loại virus chính dẫn đến bệnh mụn rộp sinh dục. Số bệnh nhân nhiễm HSV-1 cao hơn nhiều HSV-2, có khoảng 65% người Mỹ đã từng nhiễm HSV-1 và đa số mắc bệnh khi còn nhỏ.[10] Nhiều người nhiễm virus mà không biết, chủ yếu vì bệnh này không gây ra triệu chứng gì ngoài các đợt bùng phát vết thương. Chính vì vậy chỉ riêng ở Mỹ có hàng trăm ngàn ca bệnh mới mỗi năm, và khoảng 80% số người nhiễm HSV-2 không biểu hiện triệu chứng.[11]
    • Mụn rộp dễ lây nhất qua đường tiếp xúc trực tiếp với vết thương hay dịch tiết chứa virus. Tuy nhiên bệnh có thể lây truyền qua tiếp xúc với vùng da dường như không bị nhiễm trùng.[12] Khả năng lây truyền giảm xuống theo thời gian kể từ lần nhiễm trùng ban đầu, và giảm đến 70% sau 10 năm.[13]
  2. Yêu cầu bác sĩ xét nghiệm để xác nhận kết quả. Nếu cho rằng vết thương hay vết loét do bệnh mụn rộp gây ra, bạn cần làm xét nghiệm y khoa để khẳng định kết luận của mình. Phản ứng chuỗi trùng phân hay còn gọi là xét nghiệm PCR là phương pháp chuẩn mực để tìm ra virus mụn rộp. Xét nghiệm này sao chép DNA của bạn từ một mẫu máu (hoặc từ vết thương hay dịch tủy). Sau đó họ kiểm tra DNA để xác định bạn có nhiễm virus HSV hay không, và cụ thể là dòng virus nào.[14]
    • Bác sĩ cũng có thể làm xét nghiệm cấy virus.[15] Với xét nghiệm này họ phải dùng tăm bông lấy mẫu từ vết thương, sau đó đặt mẫu vào đĩa Petri. Thời gian xét nghiệm hơi lâu vì phải chờ để virus phát triển. Sau khi thu được mẫu virus đã sinh sôi, bác sĩ sẽ kiểm tra để xác định bạn nhiễm chủng virus nào.[16][17] Phương pháp này tốn nhiều thời gian hơn và cũng không chính xác bằng xét nghiệm PCR.[18]

Điều trị bệnh mụn rộp

  1. Uống thuốc valacyclovir (Valtrex). Không có cách điều trị dứt điểm cho bệnh mụn rộp, nhưng bạn có cách rút ngắn thời gian các đợt bùng phát. Ngay khi cho rằng bệnh đang bùng phát, bạn nên đi khám bệnh để được kê thuốc uống. Sau khi có kết quả chẩn đoán chính thức bác sĩ sẽ viết toa thuốc để bạn bắt đầu quá trình điều trị. Valacyclovir là loại thuốc thường được kê.[19] Nếu là đợt bùng phát đầu tiên bạn nên bắt đầu uống thuốc trong vòng 48 giờ sau khi triệu chứng xuất hiện và uống liên tục trong 10 ngày. Liều lượng tùy thuộc vào từng bệnh nhân nên bạn phải uống theo hướng dẫn của bác sĩ.[20]
    • Nói chung liều lượng bình thường đối với đợt bùng phát đầu tiên là 1000mg 2 lần mỗi ngày và uống trong 10 ngày. Đối với những lần sau liều lượng là 500mg 2 lần mỗi ngày và uống trong 3 ngày.
    • Nếu bệnh thường xuyên bùng phát, nghĩa là hơn 9 lần mỗi năm, bạn có thể sử dụng valacyclovir làm liệu pháp ức chế. Nghĩa là bạn uống thuốc để ngăn chặn bệnh bùng phát thay vì chỉ uống khi có dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Nếu bạn chọn giải pháp này thì phải uống theo chỉ định của bác sĩ, thông thường liều dùng là 500mg 2 lần mỗi ngày, và uống hằng ngày.
    • Triệu chứng ban đầu là ngứa và hơi nhói đau ở khu vực sẽ phát sinh mụn rộp trong vài giờ tới vài ngày sau đó. Bắt đầu uống thuốc ngay khi cảm thấy ngứa ran và nóng.[21]
  2. Uống thuốc acyclovir (Zovirax).[22] Mặc dù valacyclovir là loại thuốc mới nhất để điều trị mụn rộp, nhưng bạn cũng có thể uống các thuốc cũ hơn không còn được sử dụng phổ biến. Lý do vì những thuốc này có tần suất uống nhiều hơn và gây nhiều phiền toái cho người bệnh. Tuy nhiên giá thành của chúng rẻ hơn valacyclovir nhiều. Cũng như các thuốc khác, liều lượng uống tùy thuộc vào từng bệnh nhân nên bạn phải uống theo chỉ định của bác sĩ.[23]
    • Nếu bác sĩ cho bạn uống thuốc này trong đợt bùng phát đầu tiên thì liều lượng thông thường là 200mg 5 lần mỗi ngày, uống lúc tỉnh trong 10 ngày. Nếu đang ở giai đoạn bệnh tái phát thì bạn nên uống 200mg 2-5 lần mỗi ngày, uống lúc tỉnh trong 5 ngày (hoặc kéo dài cả năm).
    • Acyclovir cũng được bào chế thành dạng kem. Acyclovir dạng kem không hiệu quả như dạng uống nhưng có thể hỗ trợ quá trình lành đối với vết lở miệng. Thoa kem lúc tỉnh sau mỗi 3 giờ trong một tuần.[24]
  3. Hỏi bác sĩ về thuốc famciclovir (Famvir). Cũng như các thuốc điều trị mụn rộp khác, tốt nhất bạn nên yêu cầu bác sĩ kê thuốc này trong vòng 48 giờ sau khi triệu chứng xuất hiện.[25] Liều lượng tùy vào từng người nên bạn phải uống theo chỉ định của bác sĩ.[26]
    • Thông thường liều dùng để trị một đợt bùng phát là 1000mg 2 lần mỗi ngày, và chỉ uống một ngày. Liều bình thường để ức chế tái phát là 250mg 2 lần mỗi ngày và uống cả năm.
    • Nói chung bạn sẽ uống một viên 2 lần mỗi ngày và chỉ uống một ngày để trị một đợt tái phát. Để bệnh không tái phát bác sĩ có thể yêu cầu bạn uống 2 lần mỗi ngày trong một năm.[27]
  4. Áp dụng cách điều trị tại nhà. Có rất nhiều cách tự điều trị cho các đợt bùng phát mụn rộp. Lysine là một amino axít đã cho thấy hiệu quả chữa trị, đặc biệt dưới dạng uống. Bạn nên uống 1000mg lysine 3 lần mỗi ngày. Bạn cũng có thể hấp thu lysine từ chế độ ăn hằng ngày bằng cách ăn thực phẩm giàu lysine như cá, gà, trứng và khoai tây.[28]
    • Aspirin cũng hữu ích với bệnh mụn rộp nhưng bạn phải hỏi ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu uống. Một trong số các hoạt chất của thuốc được lấy từ vỏ cây liễu, giúp ức chế virus mụn rộp. Uống 325mg 1 lần mỗi ngày.
    • Có thể thoa tía tô đất trực tiếp vào vết thương, nó có tác dụng hỗ trợ quá trình lành nếu được thoa 4 lần mỗi ngày cho đến khi vết thương có dấu hiệu tiến triển tốt.[29]
    • Cũng tương tự kem Zovirax, bạn có thể sử dụng kem bôi kẽm. Thoa kem bôi chứa ôxít kẽm vào vết thương mỗi ngày để tăng cường quá trình lành. Ngoài ra người ta còn thoa chất gel lô hội vào vết thương để kích thích sinh da non.[30]

Nguồn và Trích dẫn

  1. A Wald, Genital HSV-1 Infections, Sexually Transmitted Infections, 2005 June, 82( 3), 189-190
  2. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/genital-herpes/basics/symptoms/con-20020893
  3. Beauman, John G. and MC Maj, Genital Herpes: A Review. Am Fam Physician. 2005 Oct 15, 72(8): 1527-1534
  4. http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/ency/imagepages/9000.htm
  5. Beauman, John G. and MC Maj, Genital Herpes: A Review. Am Fam Physician. 2005 Oct 15, 72(8): 1527-1534
  6. http://www.healthgrades.com/conditions/viral-diseases
  7. Beauman, John G. and MC Maj, Genital Herpes: A Review. Am Fam Physician. 2005 Oct 15, 72(8): 1527-1534
  8. Beauman, John G. and MC Maj, Genital Herpes: A Review. Am Fam Physician. 2005 Oct 15, 72(8): 1527-1534
  9. http://www.cdc.gov/std/herpes/stdfact-herpes-detailed.htm
  10. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK47447/
  11. http://www.medscape.com/viewarticle/821875_3
  12. http://www.cdc.gov/std/herpes/stdfact-herpes-detailed.htm
  13. http://www.medscape.com/viewarticle/821875_3
  14. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/genital-herpes/basics/tests-diagnosis/con-20020893
  15. http://www.cdc.gov/std/herpes/stdfact-herpes-detailed.htm
  16. Beauman, John G. and MC Maj, Genital Herpes: A Review. Am Fam Physician. 2005 Oct 15, 72(8): 1527-1534
  17. http://www.cdc.gov/std/herpes/stdfact-herpes-detailed.htm
  18. http://www.cdc.gov/std/herpes/stdfact-herpes-detailed.htm
  19. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/genital-herpes/basics/treatment/con-20020893
  20. http://www.mayoclinic.org/drugs-supplements/valacyclovir-oral-route/proper-use/drg-20066635
  21. Simmons, Anthony, Clinical Manifestations and Treatment Considerations of Herpes Simplex Virus Infection, Journal of Infectious Diseases, 2002 186, Sup 1, S71- S77
  22. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/genital-herpes/basics/treatment/con-20020893
  23. http://www.mayoclinic.org/drugs-supplements/acyclovir-oral-route-intravenous-route/proper-use/drg-20068393
  24. Simmons, Anthony, Clinical Manifestations and Treatment Considerations of Herpes Simplex Virus Infection, Journal of Infectious Diseases, 2002 186, Sup 1, S71- S77
  25. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/genital-herpes/basics/treatment/con-20020893
  26. http://www.mayoclinic.org/drugs-supplements/famciclovir-oral-route/proper-use/drg-20063776
  27. http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/druginfo/meds/a694038.html
  28. http://umm.edu/health/medical/altmed/condition/herpes-simplex-virus
  29. http://umm.edu/health/medical/altmed/condition/herpes-simplex-virus
  30. Beauman, John G. and MC Maj, Genital Herpes: A Review. Am Fam Physician. 2005 Oct 15, 72(8): 1527-1534

Liên kết đến đây