Cách thức vi khuẩn giữ các tế bào biểu mô của vật chủ

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Để nhiễm thành công vào cơ thể vật chủ, vi khuẩn phải xâm nhập vào được các tế bào biểu mô trên bề mặt của lớp niêm mạc (như các tế bào lót trong đường tiêu hóa, đường hô hấp, đường tiết niệu v.v.). Tuy vậy, trở ngại cho quá trình xâm nhập này chính là hiện tượng "bong tróc" của các tế bào biểu mô mà cơ thể vật chủ sử dụng như là một trong những cách ngăn cản không cho vi khuẩn "vào" thành công.

Vậy cơ chế nào giúp vi khuẩn hạn chế được quá trình "lột lớp tế bào cũ" để "thay lớp mới" này?

Một công bố trên tạp chí Science (tháng 9/2010) của các nhà khoa học thuộc đại học Konstanz và đại học Munich (CHLB Đức) cho biết vi khuẩn kết hợp với protein kháng nguyên bề mặt của các tế bào biểu mô có tên carcinoembryonic antigen (CEA). Quá trình kết hợp này dẫn đến hàng loạt các biến đổi về đặc điểm gắn kết của tế bào và hoạt hóa β1 integrins. Kết quả cuối cùng là nhiều tế bào biểu mô "chịu ở lại" nhờ đó giúp vi khuẩn "trụ được" trên bề mặt biểu mô niêm mạc để tiếp tục "hành trình xâm nhập" sâu hơn vào cơ thể.

Thí nghiệm sử dụng chuột nhắt cảm nhiễm với song cầu khuẩn gram âm gây lậu mủ (bệnh truyền nhiễm đường niệu sinh dục ở người).

Abstract

Colonization of mucosal surfaces is the key initial step in most bacterial infections. One mechanism protecting the mucosa is the rapid shedding of epithelial cells, also termed exfoliation, but it is unclear how pathogens counteract this process. We found that carcinoembryonic antigen (CEA)–binding bacteria colonized the urogenital tract of CEA transgenic mice, but not of wild-type mice, by suppressing exfoliation of mucosal cells. CEA binding triggered de novo expression of the transforming growth factor receptor CD105, changing focal adhesion composition and activating β1 integrins. This manipulation of integrin inside-out signaling promotes efficient mucosal colonization and represents a potential target to prevent or cure bacterial infections.

Nguồn: Science 3 September 2010: Vol. 329. no. 5996, pp. 1197 - 1201 DOI: 10.1126/science.1190892

Liên kết đến đây