Chương trình giáo dục phổ thông/Định hướng về nội dung giáo dục

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
ĐỊNH HƯỚNG VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC

Mục lục

1. Giáo dục ngôn ngữ và văn học

Giáo dục ngôn ngữ và văn học có vai tr  quan trọng trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho thế hệ trẻ. Thông qua các hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học, nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, đặc biệt là tình yêu đất nước, tình yêu con người, tính trung thực và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục ngôn ngữ và văn học giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên môn như năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội.

Ngoài nhiệm vụ hình thành, phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt, ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số, giáo dục ngôn ngữ và văn học c n giúp học sinh sử dụng hiệu quả những phương tiện giao tiếp khác như hình ảnh, biểu tượng, ký hiệu, sơ đồ, đồ thị, bảng biểu,...

Giáo dục ngôn ngữ được thực hiện ở tất cả các môn học, trong đó Ngữ văn, Ngoại ngữ và Tiếng dân tộc thiểu số có vai tr  chủ đạo. Giáo dục văn học được thực hiện chủ yếu ở môn học Ngữ văn.

1.1. Môn Ngữ văn

Ngữ văn là môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12. Nội dung cốt lõi bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng cơ bản, thiết yếu về tiếng Việt và văn học, phù hợp với các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học. Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Ngữ văn được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Môn học có tên là Tiếng Việt ở cấp tiểu học và Ngữ văn ở cấp trung học cơ sở.

Kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh có thể sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hằng ngày và học tập tốt các môn học khác; có thể đọc, viết, nói và nghe các loại văn bản phổ biến và thiết yếu, gồm văn bản văn học, nghị luận và thông tin; đồng thời qua môn học, học sinh được bồi dưỡng và phát triển về tâm hồn và nhân cách. 

Chương trình được thiết kế theo các mạch nội dung chính: đọc, viết, nói và nghe. Kiến thức tiếng Việt và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói và nghe. Các ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh ở mỗi cấp học.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Môn học giúp học sinh nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong các hoạt động học tập và thực tiễn đời sống; đồng thời tiếp cận với một số nội dung học tập có liên quan đến định hướng nghề nghiệp, đáp ứng sở thích và nhu cầu học tập của người học.

Ở giai đoạn này, chương trình môn học củng cố các mạch nội dung của giai đoạn giáo dục cơ bản, giúp học sinh phát triển toàn diện các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe; qua đó phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng lập luận, chú ý nhiều hơn đến tính chất công cụ của môn học, thể hiện qua việc tăng cường năng lực tiếp nhận và năng lực tạo lập văn bản nghị luận, văn bản thông tin có độ phức tạp hơn về chủ đề và kỹ thuật viết; giúp học sinh có cơ hội đọc nhiều và đọc sâu hơn các tác phẩm văn học theo thể loại, giai đoạn văn học hay phong cách sáng tác, trang bị một số kiến thức lịch sử văn học, lý luận văn học có tác dụng thiết thực đối với việc đọc và viết về văn học. 

Chương trình cũng quan tâm thích đáng đến đọc, viết, nói và nghe các loại văn bản có liên quan đến các ngành nghề; đồng thời giúp học sinh có những hiểu biết tương đối tổng quát về các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, khả năng vận dụng các năng lực về ngôn ngữ và văn học trong đời sống và công việc, từ đó khám phá sở thích, năng lực của bản thân để định hướng nghề nghiệp tương lai. 

1.2. Môn Ngoại ngữ 

Môn học Ngoại ngữ giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực ngoại ngữ để sử dụng một cách tự tin, hiệu quả, phục vụ cho học tập và giao tiếp, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước. 

Học sinh phổ thông bắt buộc phải học một ngoại ngữ (gọi là Ngoại ngữ 1) và được tự chọn thêm ít nhất một ngoại ngữ khác (gọi là Ngoại ngữ 2) theo nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của cơ sở giáo dục.

Ngoại ngữ 1 là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12. Cơ sở giáo dục có điều kiện thuận lợi có thể tổ chức học Ngoại ngữ 1 bắt đầu từ lớp 1; thời lượng học ở lớp 1, lớp 2 không quá 70 tiết/năm học.

Ngoại ngữ 2 là môn học tự chọn, có thể bắt đầu từ lớp 6 và kết thúc ở bất kỳ lớp nào tùy theo nhu cầu của học sinh và khả năng đáp ứng của cơ sở giáo dục.

Chương trình môn học Ngoại ngữ nhằm phát triển toàn diện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Nội dung chương trình được xây dựng dựa theo yêu cầu của Khung trình độ ngoại ngữ sáu bậc dành cho Việt Nam, liền mạch từ giai đoạn giáo dục cơ bản đến hết lớp 12.

1.3. Môn Tiếng dân tộc thiểu số

Dạy học tiếng dân tộc thiểu số là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước để giữ gìn và phát huy giá trị ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc thiểu số. Nhà nước tập trung đầu tư, ưu tiên dạy tiếng dân tộc thiểu số đối với các dân tộc thiểu số ít người; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phổ thông là người dân tộc thiểu số có nguyện vọng, nhu cầu được học và hoàn thành chương trình học tiếng dân tộc thiểu số đã có chữ viết.

Môn học Tiếng dân tộc thiểu số được dạy từ tiểu học, sử dụng thời lượng tự chọn tương ứng của từng cấp học để tổ chức dạy học.

Nội dung dạy học tiếng dân tộc thiểu số được quy định trong từng chương trình tiếng dân tộc thiểu số do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Điều kiện tổ chức dạy học và quy trình đưa tiếng dân tộc thiểu số vào dạy học ở cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Giáo dục toán học

Giáo dục toán học hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi là: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kỹ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn. Giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với các môn học khác và giữa Toán học với đời sống thực tiễn. 

Giáo dục toán học được thực hiện ở nhiều môn học như Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo,... trong đó Toán là môn học cốt lõi. 

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Toán được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Môn Toán là môn học bắt buộc ở tiểu học và trung học cơ sở, giúp học sinh nắm được một cách có hệ thống các khái niệm, nguyên lý, quy tắc toán học cần thiết nhất cho tất cả mọi người, làm nền tảng cho việc học tập ở các trình độ học tập tiếp theo hoặc có thể sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. 

Chương trình môn Toán giai đoạn giáo dục cơ bản kết hợp giữa cấu trúc tuyến tính với cấu trúc “đồng tâm xoáy ốc” (đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần), xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất. 

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Môn Toán là môn học bắt buộc ở trung học phổ thông. Chương trình môn Toán ở giai đoạn này cũng kết hợp cấu trúc tuyến tính với cấu trúc “đồng tâm xoáy ốc”, xoay quanh và tích hợp ba mạch kiến thức: Số và Đại số, Hình học và Đo lường, Thống kê và Xác suất. 

Chương trình môn Toán ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp giúp cho học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về toán học, hiểu được vai tr  và những ứng dụng của toán học trong đời sống thực tế, những ngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp sau này, cũng như có đủ năng lực tối thiểu để tự mình tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến toán học trong suốt cuộc đời.

Ở lớp 10, chương trình môn Toán giúp học sinh củng cố vững chắc học vấn toán học phổ thông cốt lõi, hoàn thiện dần các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có được thái độ tích cực đối với môn Toán. 

Ở các lớp 11 và lớp 12, môn Toán được phát triển trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 10, được lựa chọn từ những vấn đề cần thiết nhất, mang tính ứng dụng cao đối với học sinh với các định hướng nghề nghiệp khác nhau sau trung học phổ thông.

3. Giáo dục công dân

Giáo dục công dân giữ vai tr  chủ đạo trong việc giáo dục nhân cách công dân. Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế, giáo dục công dân bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là tình cảm, nhận thức, niềm tin và cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kỹ năng sống và bản lĩnh vững vàng để tiếp tục phát triển và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Giáo dục công dân được thực hiện thông qua tất cả các môn học, nhất là các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, trong đó Giáo dục lối sống (tiểu học), Giáo dục công dân (trung học cơ sở), Giáo dục kinh tế và pháp luật (trung học phổ thông) là những môn học cốt lõi.

Mạch nội dung giáo dục công dân xoay quanh các mối quan hệ của con người với bản thân, với người khác, với cộng đồng, đất nước, nhân loại, với công việc và với môi trường tự nhiên; được xây dựng trên cơ sở kết hợp các giá trị truyền thống và hiện đại, dân tộc và toàn cầu; mở rộng và nâng cao dần từ tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục công dân được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Môn Giáo dục lối sống ở tiểu học, Giáo dục công dân ở trung học cơ sở là những môn học bắt buộc. Nội dung chủ yếu của các môn học này là giáo dục đạo đức, pháp luật, giá trị sống, kỹ năng sống. Các mạch nội dung này định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng, nhằm hình thành cho học sinh thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập, sinh hoạt và ý thức tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật ở lớp 10 là môn học bắt buộc, ở lớp 11 và lớp 12 là môn học tự chọn bắt buộc. Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục kinh tế và pháp luật là học vấn phổ thông, cơ bản về kinh tế, pháp luật.

Ở lớp 10, môn Giáo dục kinh tế và pháp luật giúp học sinh hoàn thiện thêm một bước các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời có cái nhìn tổng quát về lĩnh vực kinh tế và pháp luật, từ đó có hứng thú đối với môn học và đánh giá đúng nguyện vọng, sở trường của bản thân để lựa chọn môn học ở lớp 11 và lớp 12 một cách phù hợp.

Ở lớp 11 và lớp 12, môn học Giáo dục kinh tế và pháp luật dành cho những học sinh định hướng theo học các ngành nghề Giáo dục chính trị, Giáo dục công dân, Kinh tế, Hành chính và Pháp luật. Nội dung chủ yếu của môn học gồm những vấn đề kinh tế và pháp luật mang tính ứng dụng, thiết thực đối với định hướng nghề nghiệp sau trung học phổ thông của học sinh.

4. Giáo dục quốc phòng và an ninh

Giáo dục quốc phòng và an ninh bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản về quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giáo dục quốc phòng và an ninh ở trường tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện tích hợp trong nội dung các môn học khác, kết hợp với hoạt động ngoại khóa phù hợp với lứa tuổi, bảo đảm cho học sinh hình thành những hiểu biết ban đầu về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, về lực lượng vũ trang nhân dân; có ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.

Giáo dục quốc phòng và an ninh trong trường trung học phổ thông là môn học chính khóa, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết ban đầu về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; về truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam; có kiến thức cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự; sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc.

Giáo dục quốc phòng và an ninh được tổ chức dạy và học theo phân phối chương trình cả năm học; đồng thời, trong năm học, căn cứ vào điều kiện cụ thể, nhà trường phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan tổ chức cho học sinh học tập ngoại khóa với nội dung và hình thức thích hợp.

5. Giáo dục thể chất

Giáo dục thể chất góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh; đồng thời, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản lý sức khỏe và rèn luyện, giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hoá thể chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết thường xuyên tập luyện và phát triển năng khiếu thể thao phù hợp với bản thân; biết thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần.

Giáo dục thể chất được thực hiện ở nhiều môn học như Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu tự nhiên, Khoa học tự nhiên, Sinh học, trong đó môn học cốt lõi là Giáo dục thể chất.

Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục thể chất là Thể dục và Thể thao, rèn luyện kỹ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho học sinh bằng những bài tập thể chất đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản, đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các tr  chơi vận động, các môn thể thao và phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Môn Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc, giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các tr  chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kỹ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Môn Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc có phân hóa, được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao, tiếp tục phát triển ở học sinh kỹ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, giúp những học sinh có năng khiếu thể thao tự chọn định hướng nghề nghiệp phù hợp. Học sinh được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường.

6. Giáo dục nghệ thuật

Giáo dục nghệ thuật cùng các lĩnh vực giáo dục khác góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh; đồng thời, thông qua việc trang bị những kiến thức cơ bản, kỹ năng cốt lõi về các lĩnh vực nghệ thuật và phát triển năng khiếu cho học sinh, tập trung hình thành, phát triển cho học sinh năng lực thẩm mỹ, sáng tạo; giáo dục thái độ tôn trọng, khả năng kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá, nghệ thuật truyền thống của dân tộc trong quá trình hội nhập và giao lưu với thế giới, đáp ứng mục tiêu giáo dục hài h a về đức, trí, thể, mỹ cho học sinh.

Giáo dục nghệ thuật được thực hiện thông qua nhiều môn học, mà cốt lõi là môn Nghệ thuật (tiểu học và trung học cơ sở), Hoạt động nghệ thuật (lớp 10), các môn học Âm nhạc, Mỹ thuật (lớp 11 và lớp 12).

6.1. Môn Âm nhạc

Âm nhạc gắn bó và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người. Thông qua nghệ thuật âm thanh, âm nhạc giúp con người thể hiện cảm xúc, tư tưởng, biểu đạt các giá trị văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong giáo dục, âm nhạc đóng vai tr  quan trọng để con người phát triển hài h a đức, trí, thể, mỹ, góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

Chương trình giáo dục âm nhạc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa âm nhạc của nhân loại và của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Chương trình được xây dựng bảo đảm sự hài h a giữa yêu cầu về nội dung và yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh từng cấp học.

Nội dung cốt lõi của môn Âm nhạc bao gồm các mạch kiến thức và kỹ năng về học hát, nhạc cụ, đọc nhạc, lý thuyết âm nhạc và thường thức âm nhạc. Giáo dục âm nhạc tạo nên môi trường học tập đa dạng, tạo cơ hội cho học sinh phát triển các năng lực thực hành, hiểu biết, cảm thụ, sáng tạo và ứng dụng âm nhạc.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Âm nhạc được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Âm nhạc là một phân môn trong môn học Nghệ thuật (môn học bắt buộc có phân hóa) từ lớp 1 đến lớp 9. Nội dung giáo dục âm nhạc giúp học sinh trải nghiệm, khám phá và thể hiện bản thân thông qua các hoạt động ca hát, chơi nhạc cụ, nghe nhạc, đọc nhạc, vận động, nhảy múa, trình diễn và sáng tạo âm nhạc; từ đó hình thành, phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ, nhận thức sự đa dạng của thế giới âm nhạc và mối liên hệ giữa âm nhạc với văn hoá, lịch sử cùng các loại hình nghệ thuật khác; đồng thời hình thành ý thức bảo vệ và phổ biến các giá trị âm nhạc truyền thống.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Âm nhạc là một phần của Hoạt động nghệ thuật (môn học bắt buộc có phân hoá) ở lớp 10 và là môn học tự chọn bắt buộc ở lớp 11 và lớp 12. Nội dung hoạt động âm nhạc ở lớp 10 là thực hành về học hát, nhạc cụ và biểu diễn. Nội dung trọng tâm của môn Âm nhạc ở lớp 11 và lớp 12 là những kiến thức mở rộng và nâng cao về hợp xướng, h a tấu dàn nhạc, khiêu vũ, sáng tạo âm nhạc,... giúp học sinh hoàn thiện kỹ năng thực hành, ứng dụng kiến thức vào đời sống, đáp ứng sở thích cá nhân, đồng thời tiếp cận với những nghề nghiệp liên quan đến âm nhạc.

6.2. Môn Mỹ thuật

Mỹ thuật là loại hình nghệ thuật thể hiện suy nghĩ và cảm nhận bằng thị giác; thông qua hình ảnh thị giác để thể hiện, khám phá bản thân và thế giới, giao tiếp với con người và xã hội. Ngôn ngữ mỹ thuật mang tính phổ quát và được xem là một trong những phương tiện để ghi chép, mô tả, tái hiện lịch sử và phản ánh văn hóa, xã hội, tìm hiểu quá khứ, hiện tại và sáng tạo tương lai.

Mục tiêu của môn Mỹ thuật là bồi dưỡng, phát triển cho học sinh năng lực thẩm mỹ, sáng tạo với các năng lực thành phần đặc thù của môn học như: quan sát, cảm thụ nghệ thuật; khám phá, thể hiện nghệ thuật; phân tích, đánh giá nghệ thuật; kế thừa, phát huy văn hóa nghệ thuật dân tộc phù hợp với sự phát triển và biến đổi của thời đại.

Chương trình môn học kết hợp cấu trúc tuyến tính và cấu trúc đồng tâm, mở rộng mạch kiến thức, kỹ năng thông qua các hình thức Tạo hình, Thủ công, Thiết kế và Bình luận mỹ thuật; đặc biệt, tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm và vận dụng mỹ thuật vào đời sống thực tế; giúp học sinh kết nối mỹ thuật với các môn học khác và liên hệ mỹ thuật với các lĩnh vực trong đời sống thực tiễn; tạo cơ sở cho học sinh định hướng được nghề nghiệp tương lai, cũng như chủ động tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật và hội nhập vào đời sống xã hội. 

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung môn Mỹ thuật được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Mỹ thuật là một phân môn trong môn học Nghệ thuật (môn học bắt buộc có phân hóa) từ lớp 1 đến lớp 9. Nội dung giáo dục mỹ thuật được thiết kế theo hướng tích hợp nhằm hình thành cho học sinh khả năng quan sát và cảm thụ nghệ thuật, nhận thức và biểu đạt thế giới; hình thành và phát triển khả năng đọc, hiểu tác phẩm, sản phẩm mỹ thuật; tạo cơ hội cho học sinh thực hành, trải nghiệm và phát triển năng lực sáng tạo, giải quyết vấn đề.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Mỹ thuật là một phần của Hoạt động nghệ thuật (môn học bắt buộc có phân hóa) ở lớp 10 và là môn học tự chọn bắt buộc ở lớp 11 và lớp 12. 

Nội dung giáo dục mỹ thuật ở lớp 10 tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm, khám phá và thể hiện bản thân thông qua các hoạt động thưởng thức và sáng tạo mỹ thuật. Những hoạt động này giúp học sinh phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ, nhận thức sự đa dạng của mỹ thuật và mối liên hệ giữa mỹ thuật với văn hoá, với cuộc sống, từ đó giúp học sinh lựa chọn môn học ở lớp 11 và lớp 12 phù hợp với sở thích, năng lực của bản thân và nhu cầu của thực tiễn.

Nội dung giáo dục mỹ thuật ở lớp 11 và lớp 12 phát triển kiến thức cơ bản của nghệ thuật thị giác, thông qua thực hành, trải nghiệm, sáng tạo; phát triển tư duy độc lập và khả năng đọc hiểu tác phẩm, sản phẩm mỹ thuật; tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tiễn và xác định được lĩnh vực ngành nghề sau giáo dục phổ thông.

7. Giáo dục khoa học xã hội

Giáo dục khoa học xã hội đóng vai tr  chủ đạo trong việc giáo dục nhân sinh quan, thế giới quan, hoàn thiện nhân cách, giáo dục ý thức dân tộc, l ng yêu nước, các giá trị nhân văn, tinh thần cộng đồng và những phẩm chất của công dân toàn cầu (tài năng, bản lĩnh, kết nối, cá tính, yêu thương) trong xu thế phát triển, đổi mới, sáng tạo của thời đại. 

Mục tiêu xuyên suốt của giáo dục khoa học xã hội là góp phần giúp cho học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung trên cơ sở nắm vững hệ thống tri thức cơ bản về khoa học xã hội, chủ yếu là lịch sử và địa lý; chuẩn bị cho những công dân tương lai hiểu rõ hơn về thế giới mà họ đang sống, sự kết nối giữa con người với con người, giữa con người với môi trường xung quanh, giữa dân tộc với thế giới; truyền cảm hứng cho học sinh khám phá bản thân, các vấn đề của đất nước, của khu vực và thế giới có liên quan trực tiếp đến cuộc sống; giúp học sinh hiểu biết, có tư duy phản biện và sáng tạo.Thông qua giáo dục khoa học xã hội, học sinh bước đầu học được cách quan sát, phương pháp tìm hiểu, khám phá và tư duy về xã hội, cuộc sống, coi trọng chứng cứ, hình thành và phát triển một số năng lực thành phần đặc thù của môn học, như năng lực đối thoại liên văn hóa, năng lực tự tìm hiểu, khám phá bản thân, cộng đồng, xã hội, năng lực tư duy và thực hành khoa học xã hội và nhân văn, từng bước nâng cao năng lực kiến giải hiện tượng và quá trình xã hội cụ thể, biết cách phân tích và giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội, chính trị và văn hóa trong không gian và thời gian cụ thể,...

Giáo dục khoa học xã hội được thực hiện ở nhiều môn học, trong đó các môn học cốt lõi là: Cuộc sống quanh ta (lớp 1, lớp 2 và lớp 3), Tìm hiểu xã hội (lớp 4 và lớp 5), Lịch sử và Địa lý (cấp trung học cơ sở), Lịch sử, Địa lý (cấp trung học phổ thông).

Nội dung cốt lõi của các môn học được tổ chức theo các mạch chính là đại cương, thế giới, khu vực, Việt Nam và địa phương, bảo đảm cấu trúc sau: quá trình tiến hoá (thời gian, không gian), quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, kiến tạo nền văn minh - văn hiến của dân tộc Việt Nam; sự phát triển của tiến bộ xã hội và nguyên nhân của hưng thịnh, suy vong qua các thời kỳ của các quốc gia - dân tộc; các thành tựu chính về kinh tế, xã hội, văn hoá, văn minh; các cá nhân, tập đoàn người trong quan hệ hợp tác, cạnh tranh; điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm dân cư, tình hình phát triển thành thị và nông thôn trong các không gian và thời gian lịch sử; cơ cấu và phân bố nền kinh tế; một số chủ đề liên môn kết nối các nội dung của lịch sử, địa lý kinh tế - xã hội, địa lý tự nhiên. Các mạch nội dung của các môn khoa học xã hội cũng có tính liên môn, tích hợp với các lĩnh vực khác, như giáo dục ngôn ngữ, văn hóa và văn học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục kinh tế, dân tộc, tôn giáo, môi trường, phát triển bền vững,…

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục khoa học xã hội được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Giáo dục khoa học xã hội được thực hiện trong các môn học bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 9. Ở các lớp 1, 2, 3, nội dung giáo dục khoa học xã hội được thực hiện qua môn học Cuộc sống quanh ta; lên các lớp 4, 5, môn Cuộc sống quanh ta tách thành các môn học Tìm hiểu xã hội và Tìm hiểu tự nhiên. Ở trung học cơ sở, môn học Lịch sử và Địa lý gồm hai phân môn Lịch sử, Địa lý và một số chuyên đề tích hợp chủ yếu của hai phân môn đó, đồng thời lồng ghép, tích hợp kiến thức ở mức độ đơn giản về kinh tế, văn hoá, khoa học, tôn giáo,... Các mạch kiến thức của hai phân môn Lịch sử và Địa lý được sắp xếp gần nhau nhằm soi sáng và hỗ trợ lẫn nhau. Ngoài ra có thêm một số chủ đề liên môn mang tính tích hợp.  

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Lịch sử, Địa lý là các môn học bắt buộc ở lớp 10 và là các môn tự chọn bắt buộc ở lớp 11 và lớp 12.

Chương trình dự hướng ở lớp 10 giúp học sinh nắm được những đặc điểm tổng quát của khoa học lịch sử và khoa học địa lý, các ngành nghề có liên quan đến lịch sử và địa lý, khả năng ứng dụng kiến thức lịch sử và địa lý trong đời sống, đồng thời củng cố và mở rộng nền tảng tri thức, kỹ năng phổ thông cốt lõi đã hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo cơ sở vững chắc để học sinh có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, phù hợp.

Ở lớp 11 và lớp 12, môn Lịch sử chú trọng đến các chủ đề và các lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, như lịch sử chính trị, lịch sử kinh tế, lịch sử văn minh, văn hóa, lịch sử quân sự và lịch sử xã hội, sự tương tác và hội nhập của Việt Nam vào khu vực và thế giới. Môn Địa lý tập trung vào một số chủ đề về địa lý thế giới (khu vực, quốc gia tiêu biểu) và địa lý Việt Nam (tự nhiên, kinh tế - xã hội) nhằm hỗ trợ cho những học sinh có định hướng nghề nghiệp thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cũng như một vài ngành khoa học hữu quan.

8. Giáo dục khoa học tự nhiên

Bên cạnh vai tr  góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh, giáo dục khoa học tự nhiên có sứ mệnh hình thành và phát triển thế giới quan khoa học của học sinh; đóng vai tr  chủ đạo trong việc giáo dục học sinh tinh thần khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng các quy luật của tự nhiên để từ đó biết ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và môi trường. Thông qua các hoạt động học tập của lĩnh vực này, học sinh dần hình thành và phát triển năng lực tìm hiểu và khám phá thế giới tự nhiên qua quan sát và thực nghiệm, năng lực vận dụng tổng hợp kiến thức khoa học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.

Giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện trong nhiều môn học, cốt lõi là các môn Cuộc sống quanh ta (lớp 1, lớp 2 và lớp 3), Tìm hiểu tự nhiên (lớp 4 và lớp 5), Khoa học tự nhiên (trung học cơ sở), Vật lý, Hóa học, Sinh học (trung học phổ thông).

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục khoa học tự nhiên được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Nội dung chủ yếu của môn học Khoa học tự nhiên là tích hợp các lĩnh vực kiến thức về Vật lý, Hóa học, Sinh học; được tổ chức theo các mạch nội dung (vật chất, sự sống, năng lượng, Trái Đất, bầu trời); các nguyên lý và quy luật chung của thế giới tự nhiên (tính cấu trúc, sự đa dạng, sự tương tác, tính hệ thống, quy luật vận động và biến đổi); vai tr  của khoa học đối với sự phát triển xã hội; vận dụng kiến thức khoa học trong sử dụng và khai thác thiên nhiên một cách bền vững.

Cấu trúc nội dung môn Khoa học tự nhiên ở trung học cơ sở gồm các chủ đề phân môn (Vật lý, Hóa học, Sinh học), các chủ đề liên môn, nhằm hình thành các nguyên lý, quy luật chung của thế giới tự nhiên. Các nội dung này được sắp xếp chủ yếu theo logic tuyến tính, có kết hợp một số kiến thức đồng tâm.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Giáo dục khoa học tự nhiên được thực hiện chủ yếu qua các môn học Vật lý, Hóa học và Sinh học.

Ở lớp 10, Vật lý, Hóa học và Sinh học là những môn học bắt buộc. Nội dung các môn học này được phát triển trên cơ sở nội dung nền tảng ở giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời gắn kết với đời sống và góp phần định hướng nghề nghiệp.

Ở lớp 11 và lớp 12, Vật lý, Hóa học và Sinh học là những môn học tự chọn bắt buộc dành cho học sinh có thiên hướng khoa học tự nhiên, công nghệ. Nội dung các môn học này được thiết kế vừa đảm bảo phát triển năng lực chung và năng lực tìm hiểu tự nhiên, vừa giúp học sinh định hướng ngành nghề tương lai.

9. Giáo dục công nghệ  

Giáo dục công nghệ giúp học sinh học tập và làm việc hiệu quả trong môi trường công nghệ ở gia đình, nhà trường và xã hội; hình thành và phát triển năng lực thiết kế, năng lực sử dụng, giao tiếp và đánh giá công nghệ; có tri thức về hướng nghiệp, tiếp cận với các thông tin và cơ hội trải nghiệm về một số ngành nghề phổ biến trong xã hội; qua đó lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp nhất với bản thân, chuẩn bị các tri thức nền tảng để theo học các ngành nghề thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ.

Cùng với các lĩnh vực giáo dục khác, giáo dục công nghệ góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung. Với trọng tâm là hình thành và phát triển năng lực thiết kế, giáo dục công nghệ có nhiều cơ hội và lợi thế trong hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Bên cạnh đó, giáo dục công nghệ c n góp phần hình thành và phát triển một số năng lực chuyên môn khác như năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tin học.

Giáo dục công nghệ được thực hiện thông qua nhiều môn học, trong đó cốt lõi là các môn Thế giới công nghệ (lớp 1, lớp 2 và lớp 3) và Tìm hiểu công nghệ (lớp 4 và lớp 5); Công nghệ và Hướng nghiệp (trung học cơ sở); Thiết kế và Công nghệ (trung học phổ thông). Cùng với Toán học, Khoa học tự nhiên và Tin học, các môn học về công nghệ góp phần thúc đẩy giáo dục STEM, một trong những xu hướng giáo dục đang được coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục công nghệ được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Giáo dục công nghệ trang bị cho học sinh những hiểu biết, kỹ năng phổ thông, cốt lõi về công nghệ; những tri thức và kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân. 

Ở tiểu học, học sinh được khám phá thế giới kỹ thuật, công nghệ thông qua các chủ đề đơn giản về công nghệ và đời sống, một số sản phẩm công nghệ trong gia đình mà học sinh tiếp xúc hằng ngày, an toàn với công nghệ trong nhà; được trải nghiệm thiết kế kỹ thuật, công nghệ thông qua các hoạt động thủ công kỹ thuật, lắp ráp các mô hình kỹ thuật đơn giản, trồng và chăm sóc hoa, cây xanh trong chậu. 

Ở trung học cơ sở, học sinh được trang bị những tri thức về công nghệ trong phạm vi gia đình; những nguyên lý cơ bản về các quá trình sản xuất chủ yếu; hiểu biết ban đầu về tư duy thiết kế; phương pháp lựa chọn nghề cùng với thông tin về các nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất chủ yếu thông qua các mạch nội dung: Công nghệ trong gia đình; Nông - Lâm nghiệp, Thủy sản và Công nghiệp; Thiết kế kỹ thuật; Hướng nghiệp. Ở các lớp cuối trung học cơ sở, ngoài các nội dung cốt lõi mà tất cả học sinh đều phải học, học sinh c n được quyền lựa chọn học các nội dung khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và hứng thú của bản thân.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Ở lớp 10, giáo dục công nghệ tiếp tục củng cố và hoàn thiện những kết quả đã đạt được trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời trang bị cho học sinh những hiểu biết tổng quan và định hướng nghề về công nghệ thông qua các nội dung về bản chất của công nghệ; vai tr , ảnh hưởng của công nghệ với đời sống xã hội; mối quan hệ giữa công nghệ với các lĩnh vực, môn học khác; lựa chọn và đánh giá công nghệ; một số lĩnh vực công nghệ phổ biến.

Ở lớp 11 và lớp 12, giáo dục công nghệ trang bị cho học sinh học vấn, năng lực nền tảng phù hợp với yêu cầu, đặc điểm, tính chất của các lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ thông qua các nội dung chủ đạo về ngôn ngữ kỹ thuật, tư duy thiết kế và công nghệ cốt lõi, nhằm bảo đảm sự thành công trong các lĩnh vực nghề nghiệp mà học sinh lựa chọn.

10. Giáo dục tin học

Giáo dục tin học có vai tr  chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng chủ động tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại thông tin, kết nối và toàn cầu hóa; là công cụ hỗ trợ đắc lực cho học sinh tự học và tập nghiên cứu. Giáo dục tin học có ưu thế trong việc hình thành và phát triển hầu hết các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi; góp phần giúp học sinh biết ứng xử có đạo đức, văn hóa, tôn trọng pháp luật, tránh được mặt tiêu cực, giảm thiểu rủi ro ảnh hưởng đến tính nhân văn và sự phát triển toàn diện của con người trong môi trường kỹ thuật số. Giáo dục tin học tạo cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và phương thức giáo dục mới để phát triển nội dung kiến thức mới, phương pháp dạy và học, phương pháp và hình thức tổ chức đánh giá hiện đại cho tất cả các môn học.  

Thông qua việc ứng dụng tin học, tất cả các môn học có cơ hội góp phần thực hiện giáo dục tin học, nhưng đóng vai tr  cốt lõi trong giáo dục tin học là các môn Thế giới công nghệ (lớp 1, lớp 2 và lớp 3), Tìm hiểu Tin học (lớp 4 và lớp 5), Tin học (trung học cơ sở và lớp 10), Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính (lớp 11 và lớp 12). 

Môn Tin học hình thành, phát triển năng lực sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ thống tự động hóa của công nghệ kỹ thuật số; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của các công cụ tin học và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số; năng lực khai thác các ứng dụng, các dịch vụ của công nghệ kỹ thuật số để học tập có hiệu quả ở các lĩnh vực khác nhau; năng lực chia sẻ thông tin, giao tiếp và hợp tác trong bối cảnh của một xã hội kinh tế tri thức.

Nội dung của môn Tin học cung cấp cho học sinh ba mạch kiến thức h a quyện: Công nghệ thông tin - truyền thông (ICT), học vấn số hóa phổ dụng (DL) và khoa học máy tính (CS).

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục tin học được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Môn Tin học giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực ứng dụng tin học, hiểu và tuân theo các nguyên tắc cơ bản trong chia sẻ và trao đổi thông tin, bước đầu hình thành và phát triển tư duy giải quyết vấn đề với sự trợ giúp của máy tính và mạng máy tính. 

Ở tiểu học, chủ yếu học sinh học sử dụng các phần mềm đơn giản để hỗ trợ cho việc học tập, chú trọng việc rèn luyện cho học sinh tuân theo các nguyên tắc giữ gìn sức khỏe khi sử dụng thiết bị tin học. 

Ở trung học cơ sở, học sinh tập trung học sử dụng, khai thác các phần mềm thông dụng làm ra các sản phẩm phục vụ học tập và đời sống; tổ chức, quản lý dữ liệu số hóa và tra cứu, tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn thông tin; tăng cường thực hành phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của công cụ tin học.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Môn Tin học có sự phân hóa sâu theo định hướng nghề nghiệp. Các chủ đề, các dự án học tập ở lớp 10 nhằm hệ thống hóa và hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng được hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, giúp học sinh có một cái nhìn tương đối tổng quát về lĩnh vực tin học, đồng thời giới thiệu về các ngành nghề thuộc lĩnh vực tin học và liên quan đến tin học. Để tạo điều kiện cho học sinh khám phá sở thích cá nhân, lựa chọn các môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp ở lớp 11và lớp 12, trong nội dung môn Tin học lớp 10 có hai chủ đề giới thiệu hai hướng chính trong lĩnh vực nghề liên quan chặt chẽ đến tin học là Khoa học máy tính và Tin học ứng dụng.

Ở lớp 11 và lớp 12, Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính là những môn học tự chọn bắt buộc theo sở thích và định hướng nghề nghiệp của học sinh. 

Môn Tin học ứng dụng nhằm đáp ứng sở thích cá nhân và nhu cầu tối thiểu của con người trong xã hội tri thức; đáp ứng mục đích dùng tin học như một công cụ nâng cao hiệu quả học tập và làm việc trong những ngành nghề liên quan đến công nghệ số hóa; đáp ứng nguyện vọng hướng đến nhiều ngành nghề thuộc dịch vụ tin học. Để phát triển năng lực thích ứng và năng lực phục vụ xã hội số hóa, các chủ đề thuộc định hướng này tập trung vào kỹ năng kết nối và sử dụng các thiết bị phần cứng, sử dụng các phần mềm công cụ, khai thác ứng dụng web, cài đặt phần mềm trên các thiết bị thông minh thông dụng, quản trị hệ thống ứng dụng.

Môn Khoa học máy tính phù hợp với định hướng các ngành nghề liên quan chặt chẽ đến tin học. Các chủ đề thuộc môn này trang bị cho học sinh kiến thức về thuật toán, lập trình, quản trị mạng, quản trị cơ sở dữ liệu, đồng thời coi trọng phát triển tư duy hệ thống, thiết kế, điều khiển và tự động hóa.

11. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kỹ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động; năng lực thích ứng với sự biến động của nghề nghiệp và cuộc sống.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12. 

Nội dung cơ bản của chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo gồm 5 lĩnh vực: Phát triển cá nhân; Cuộc sống gia đình; Đời sống nhà trường; Quê hương, đất nước và cộng đồng xã hội; Nghề nghiệp và phẩm chất người lao động. Nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thiết kế theo nguyên tắc tích hợp, kết hợp đồng tâm và tuyến tính; các chủ đề được xây dựng mang tính chất mở với những nội dung hoạt động bắt buộc cho tất cả học sinh trong cả nước và nội dung mang tính phân hoá tuỳ theo nhu cầu, năng lực, sở trường của học sinh cũng như điều kiện đáp ứng của cơ sở giáo dục. 

Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được phân chia theo hai giai đoạn.

Giai đoạn giáo dục cơ bản

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thực hiện mục tiêu hình thành các phẩm chất, thói quen, kỹ năng sống,... thông qua sinh hoạt tập thể, các dự án học tập, các hoạt động xã hội, thiện nguyện, hoạt động lao động, các loại hình câu lạc bộ khác nhau,... Bằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo của bản thân, mỗi học sinh vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình, qua đó biết cách tích cực hoá bản thân, khám phá, điều chỉnh bản thân, cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm. Ở giai đoạn này, mỗi học sinh cũng bắt đầu xác định được năng lực, sở trường và chuẩn bị một số năng lực cơ bản của người lao động tương lai và người công dân có trách nhiệm.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo tiếp tục phát triển những năng lực và phẩm chất đã hình thành từ giai đoạn giáo dục cơ bản và tập trung vào việc hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp. Ở giai đoạn này, chương trình có tính phân hoá và tự chọn cao. Học sinh được đánh giá về năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp; được rèn luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng với nghề nghiệp mai sau.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học; được thực hiện theo quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường; với các hình thức tổ chức chủ yếu: thực hành nhiệm vụ ở nhà, sinh hoạt tập thể, tr  chơi, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, cắm trại, tham quan, thực địa, thực hành lao động, câu lạc bộ, hoạt động phục vụ cộng đồng.

12. Chuyên đề học tập

Các chuyên đề học tập là nội dung học tập dành cho học sinh lớp 11 và lớp 12, nhằm giúp học sinh phát triển khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng của nhiều môn học để giải quyết các vấn đề thực tiễn có tính chất phức hợp và tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận với nghề nghiệp phù hợp với sở thích, năng lực và thực tiễn địa phương. Thời lượng giáo dục cho mỗi chuyên đề học tập là 15 tiết.

Các trường trung học phổ thông căn cứ vào nguyện vọng của học sinh, điều kiện cụ thể của nhà trường hoặc liên trường để tổ chức dạy học các chuyên đề học tập đảm bảo phù hợp, chất lượng, hiệu quả. Hệ thống các chuyên đề học tập của mỗi trường có thể được thay đổi, bổ sung qua các năm học. Người dạy chuyên đề học tập là giáo viên đã được đào tạo, bồi dưỡng hoặc là doanh nhân, nghệ nhân,... có hiểu biết, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực chuyên môn của chuyên đề học tập đó.

13. Giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường phối hợp với gia đình và xã hội nhằm cung cấp tri thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh, từ đó giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, quan niệm về giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội. Giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu phân luồng học sinh sau trung học cơ sở cũng như sau trung học phổ thông.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục hướng nghiệp được thực hiện thông qua nhiều môn học, hoạt động giáo dục và biểu hiện qua những con đường chủ yếu gồm: hướng nghiệp thông qua môn Công nghệ và Hướng nghiệp; hướng nghiệp thông qua các môn học khác; hướng nghiệp thông qua Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và các hoạt động giáo dục khác ở nhà trường và địa phương.

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông được thực hiện thường xuyên và liên tục trong đó tập trung vào các năm học cuối của giai đoạn giáo dục cơ bản và toàn bộ thời gian của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. 

14. Nội dung giáo dục của địa phương

Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức xây dựng, thẩm định nội dung giáo dục văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, môi trường, hướng nghiệp,... của địa phương để đưa vào chương trình giáo dục và báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Đối với lớp 11 và lớp 12, nội dung giáo dục địa phương có thể được xây dựng thành chuyên đề học tập cho học sinh tự chọn. 

Rss.jpg
Mời bạn đón đọc các bài viết tiếp theo bằng cách đăng kí nhận bài viết (cần đăng nhập) hoặc like fanpage Thuvienkhoahoc.com để nhận được thông báo khi có cập nhật mới.

Nguồn

  • Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông (Chương trình tổng thể), Bộ Giáo dục và Đào tạo, tháng 4 năm 2017

Liên kết đến đây