Mô tả bệnh trầm cảm

Từ Thư viện Khoa học VLOS
(đổi hướng từ Mô tả Bệnh Trầm cảm)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Trầm cảm có thể được mô tả với nhiều cách khác nhau; về cơ bản, trầm cảm là khi người bệnh trải qua một thời gian dài chìm trong buồn chán hoặc mất hứng thú. [1] Để có thể diễn tả chính xác nhất về một người mắc bệnh trầm cảm, bạn phải hiểu được cảm giác khi mắc bệnh này, nguyên nhân gây bệnh, cũng như sự khác biệt giữa các giới tính khi mắc bệnh.

Các bước

Hiểu Cảm giác khi bị Trầm cảm

  1. Hiểu diễn biến trong một ngày của bệnh trầm cảm. Đối với một ngươi bị trầm cảm, cuộc sống là một chuỗi những nỗi sợ hãi được nối tiếp bởi cảm giác tràn đầy năng lượng nhất thời. Một nét đặc trưng của bệnh trầm cảm là sự kiệt sức vào cuối ngày, do đó, người bệnh thường ngủ sâu - dù nói chung, họ ngủ không yên giấc. [2] Sáng hôm sau, điều đầu tiên họ cảm thấy là nỗi sợ hãi và lo âu, khiến họ không muốn ra khỏi giường. Nỗi sợ hãi và lo lắng đó đã trở thành gánh nặng với họ, khiến việc ra khỏi giường trở thành một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, cảm giác lo sợ cũng khiến họ chìm nghỉm trong sự trầm uất. Đó là một gánh nặng rất lớn.
    • Tuy nhiên, nối tiếp tình trang trên có thể là một sự bùng nổ năng lượng, cho phép người đó hoàn thành được rất nhiều hoạt động, chừng nào năng lượng vẫn còn. Sau sự bùng nổ năng lượng, cảm giác tiếp theo sẽ lại là sự mệt mỏi, và chu kỳ trên lại lặp lại. Dường như việc thoát khỏi chu kỳ đó là rất khó.
  2. Hiểu rằng sự đau khổ về mặt tinh thần có thể dẫn tới nỗi đau về thể xác. Bệnh trầm cảm có thể được biểu hiện qua những sự đau đớn về thể xác mà không có nguyên nhân cụ thể, và sự đau đớn cũng không xuất hiện ở một bộ phận cụ thể nào. Thực tế, đôi khi rất khó để chẩn đoán bệnh trầm cảm vì bệnh nhân chỉ nói về những triệu chứng khác thường về mặt thể xác. [3]
    • Ngoài ra, đó là những cơn đau dai dẳng, thường xuất hiện tại nhiều bộ phận khác nhau, nghĩa là nó thường diễn ra trong một thời gian khá dài.[4]
  3. Hãy nhớ rằng bệnh trầm cảm khiến mọi thứ trở nên khó khăn hơn. Khi một người bị bệnh trầm cảm, mọi hoạt động đều trở thành nhiệm vụ khó khăn. Đối với vài người, họ gần như không thể thực hiện những công việc thường nhật. Thậm chí, việc ra khỏi giường cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Dường như họ phải chuẩn bị cả một kế hoạch nghiêm túc chỉ để đi ngang qua căn phòng - người bị trầm cảm có thể phải dồn hết năng lượng vào một việc đơn giản như vậy. [5]
    • Việc duy trì một cuộc trò chuyện cũng rất khó khăn vì họ gần như mất nhu cầu thể hiện bản thân. Tình trạng không muốn làm gì được thể hiện qua nhiều hình thức - từ việc không muốn suy nghĩ cho tới việc ít nói hẳn đi.
  4. Xuất hiện sự thay đổi trong quan điểm. Cách nhìn nhận mọi thứ xung quanh sẽ bị ảnh hưởng bởi bệnh trầm cảm. Khi thực tế trở nên ảm đạm, người bệnh khó có thể duy trì một thái độ lạc quan. Thậm chí đối với họ, mặt trời cũng trở nên mờ nhạt và bớt ấm áp đi nhiều. Mọi thứ đều bị một màu xám bao phủ. Những người bị trầm cảm nặng có thể trải qua hiện tượng “chủ nghĩa hiện thực trầm cảm”. Thông thường, mọi người có xu hướng nhìn nhận thế giới và bản thân họ bằng sự lạc quan, nhưng những người theo chủ nghĩa hiện thực trầm cảm thì không.[6]
    • Những ngày tăm tối càng trở nên ảm đạm hơn, và những buổi sáng không còn đem lại cảm giác tươi mới với những bất ngờ thú vị nữa. Dù họ đã từng là người lạc quan cỡ nào, điều đó giờ đã không còn - cho dù có chuyện tích cực nào vừa xảy ra đi nữa.
  5. Hãy nhận ra rằng họ đã mất hứng thú đối với những điều mà họ vốn thích. Đây còn gọi là hiện tượng “mất khả năng trải nghiệm niềm vui”. Như vậy nghĩa là những điều họ từng yêu thích, trân trọng và mong đợi được làm đã không còn/ hoặc bớt ảnh hưởng tới họ hơn. [7]
    • Ví dụ, những người vốn yêu thích thiên nhiên không còn cảm thấy bình yên khi đi dạo ở nơi có quang cảnh đẹp. Hoa không còn mùi thơm và âm nhạc trở nên khó nghe. Tiền bạc, tình yêu, tiệc tùng - những thứ đó đều không còn hấp dẫn như vốn có đối với người bị trầm cảm.
    • Mọi thứ đều bị bao trùm trong sự chán nản và cảm giác nặng nề đến khó chịu. Dường như cuộc sống của họ đang diễn ra ở một tốc độ chậm chạp và uể oải hơn tất cả mọi người. Mọi thứ nói chung đều có vẻ đã “chìm nghỉm”.[8]
  6. Hiểu được tầm quan trọng của việc tìm ra những yếu tố gây ra cảm xúc khó chịu. Đối với người bị trầm cảm, họ luôn cảm thấy vô vọng và không gì có thể đem lại những cảm xúc tích cực. Nỗi đau tinh thần cộng với việc thiếu cảm giác vui vẻ sẽ gây ra sự quá tải trầm trọng đối với người bệnh. Nỗi đau tinh thần dường như ngày càng trở nên tồi tệ hơn mà không có lí do.[9]
    • Người bệnh có thể khóc thường xuyên không vì lí do gì cả. Họ có thể có cảm giác khó chịu với những việc mà gia đình hay bạn bè thường hay làm, hoặc với cách cư xử vốn rất bình thường của người thân.
  7. Hiểu rằng bệnh trầm cảm có thể khiến người bệnh trở nên vô cảm. Bệnh trầm cảm có thể khiến người bệnh trống rỗng và không còn cảm xúc gì cả. Hiện tượng này có thể khiến người bệnh luôn cảm thấy cô đơn ngay cả khi có gia đình và bạn bè ở bên.[10]
    • Cảm giác bị kẹt trong một đám mây hoặc bong bóng, xa cách khỏi mọi người cũng có thể xảy ra. Người bị trầm cảm có thể cảm thấy như không có ai hiểu được tình trạng của mình. Cảm giác cô đơn lại càng khiến bệnh trầm cảm thêm tồi tệ.
  8. Hiểu rẳng họ có cảm giác: cái chết là một lựa chọn hợp lý. Nỗi đau và bi kịch mà bệnh trầm cảm mang lại có thể rất thật và dai dẳng, tới mức cái chết dường như là một lựa chọn phù hợp. Người bệnh có thể nhắc tới hoặc cố gắng tìm tới cái chết. Đây là do người đó không thể kết thúc được cảm giác cô đơn, vô dụng và buồn chán, trừ khi nhờ tới cái chết.[11]
    • Khi cuộc sống không còn ý nghĩa thực sự, cái chết sẽ không còn là một vấn đề to tát. Đây không phải là vì người đó muốn chết mà chỉ vì họ không muốn sống nữa. Người bệnh có thể cảm thấy không còn hứng thú với bất kỳ điều gì trong cuộc sống, vì thế cuộc sống đã trở nên vô nghĩa.
    • Nếu có ai đó đang cảm thấy như vậy, có suy nghĩ và kế hoạch tự sát, dù là người bạn biết hoặc là chính bản thân bạn, hãy tìm kiếm sự giúp đỡ ngay lập tức. Gọi đường dây nóng Ngăn ngừa Tự sát Quốc gia của Mỹ tại số 1-800-273-TALK (8255). Nếu ở Việt Nam, bạn có thể gọi tới đường dây nóng 1900599930 phím số 1 để liên hệ với Trung tâm Phòng chống khủng hoảng tâm lý và tự tử (PCP). Ngoài ra, bạn nên liên hệ với bác sĩ, bạn bè, chuyên gia trị liệu hoặc người thân để được giúp đỡ.
  9. Hiểu sự khác nhau giữa trầm cảm và buồn bã. Ai cũng có lúc buồn phiền, nhưng trầm cảm là một tình trạng khác. Nó không phải là một dạng buồn bã thông thường. Thay vào đó, trầm cảm bao gồm:[12]
    • Nhìn nhận cuộc sống một cách bi quan và thường xuyên cảm thấy vô vọng.
    • Mất hứng thú hoặc niềm vui trong cuộc sống. Những gì từng khiến người bệnh hứng thú đều không còn tác dụng.
    • Những vấn đề về cân nặng. Người bệnh giảm hoặc tăng 5% so với trọng lượng bình thường trong một khoảng thời gian ngắn.
    • Các vấn đề về giấc ngủ như mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều.
    • Các vấn đề về thái độ như nổi giận, tỏ ra khó chịu hoặc dễ bị kích động.
    • Cảm giác uể oải và lờ đờ, không thể hoàn thành cả những nhiệm vụ đơn giản nhất.
    • Cảm giác tội lỗi. Người bị trầm cảm thường tự dằn vặt bản thân hoặc luôn tự đổ lỗi cho bản thân vì những điều họ cho rằng là tại họ.
    • Có suy nghĩ về việc tự sát hoặc các hành vi liều lĩnh. Những suy nghĩ về cái chết luôn thường trực và được cho là một sự giải thoát. Suy nghĩ thiếu cân nhắc tới sự an nguy này có thể dẫn tới những hành vi bột phát hoặc dại dột.

Hiểu Nguyên nhân và Hậu quả của Bệnh Trầm cảm

  1. Nắm được nguyên nhân gây ra trầm cảm. Dù bệnh trầm cảm không bắt nguồn từ một nguyên nhân duy nhất và ta không thể biết chính xác nguyên nhân của nó là gì, có một số nhân tố sẽ giúp bạn tiên liệu trước khả năng bị bệnh của ai đó, bao gồm:[13][14]
    • Người thân qua đời.
    • Chia ly với người thân.
    • Các tổn thất về tài chính.
    • Những thay đổi lớn trong cuộc sống như chuyển nhà sang một thành phố khác, nghỉ hưu hoặc thay đổi công việc.
    • Các vấn đề trong cuộc sống riêng như li dị, mâu thuẫn.
    • Các trách nhiệm chồng chất, ví dụ như sinh em bé hoặc chăm sóc người ốm.
    • Những mâu thuẫn trong công việc, ví dụ như thay đổi về mặt chức vụ và trách nhiệm trong khi điều đó không phù hợp với sở thích và khả năng.
    • Bị bạo hành về mặt thể chất, tình dục hoặc tinh thần.
    • Các loại bệnh tật nghiêm trọng như HIV/AIDS, Parkinson, bệnh tim hoặc ung thư.
      • Tuy nhiên, việc bị trầm cảm ở mức độ nhất định là chuyện bình thường khi có điều không hay xảy ra. Nếu sau sáu tháng, bệnh trầm cảm không thuyên giảm thì đó là một vấn đề nghiêm trọng.
  2. Nhận ra sự phổ biến của bệnh trầm cảm. Bệnh trầm cảm gây ảnh hưởng từ 6 tới 7% tổng số những người trưởng thành tại Mỹ.[15] Phần lớn (70%) những người mắc bệnh là phụ nữ - tuy nhiên, điều này chưa thể khẳng định chắc chắn do phụ nữ thường cảm thấy thoải mái khi tìm tới bác sĩ hơn, và/ hoặc đàn ông thường tự tử thành công nhiều hơn.
    • Tự tử (hành vi có liên quan tới bệnh trầm cảm) là hành vi khá phổ biến. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây chết người tương đương với các bệnh cúm và viêm phổi.[16]
  3. Hãy để ý các dấu hiệu bất an khiến người đó xa lánh mọi người. Cảm giác về giá trị của bản thân và sự tự tin của người bệnh ngày càng sa sút do kiểu suy nghĩ bi quan của họ. Người bệnh luôn thường trực suy nghĩ rằng họ không đủ tốt, không đáng yêu, không được chào đón hoặc không được ai quan tâm. Người bệnh thường xuyên cảm thấy sự hiện diện của mình không phải là điều mọi người cần đến. Vì thế, trong tâm trí của mình, họ cảm thấy muốn xa lánh người khác, bất chấp xưa nay vốn thân thiết ra sao.
    • Bệnh trầm cảm ảnh thưởng tới quá trình tư duy và khả năng xử lý thông tin của một người, hậu quả là khả năng suy nghĩ, phản ứng và quyết định trở nên chậm chạp hơn. Điều đó gây ảnh hưởng xấu tới sự tự tin của họ, khiến họ xa lánh gia đình và bạn bè. Hiện tượng này bao gồm cả việc tránh xa những hoạt động mà họ từng yêu thích.
  4. Nhận ra sự xuất hiện của những thói xấu. Nhằm quên đi tình trạng tự cô lập, lo âu và cô đơn của mình, người đó sẽ tìm tới rượu bia, thuốc và đồ ăn không lành mạnh có chứa nhiều đường và carbonhydrate. Rượu bia, đường và carbonhydrate sẽ khiến tâm trạng tốt lên, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Khi cảm giác vui vẻ trôi qua, chỉ còn lại một cảm giác tồi tệ kinh khủng như ban đầu. Không may là hiện tượng rối loại ăn uống và chứng lo âu luôn đi kèm với bệnh trầm cảm.
    • Có vài người lại ở chiều hướng đối lập và “không” ăn gì. Người đó không còn mong muốn ăn uống. Hãy để ý tới sự thay đổi cân nặng và lượng đồ ăn của họ. Họ không ăn kiêng, chỉ là do họ đang có suy nghĩ “Ăn mà làm gì?”
  5. Liệu trước sự thay đổi trong hiệu quả làm việc. Khả năng xử lý thông tin của một người bị trầm cảm, cùng với cảm giác tự hạ thấp bản thân mình sẽ dẫn tới sự thiếu tập trung, giảm năng suất làm việc cũng như năng lực của họ. Thông thường, người bị trầm cảm sẽ cố chịu đựng khi làm việc hoặc khi tham gia một hoạt động đòi hỏi sự tập trung.[17]
    • Những người bị trầm cảm thường bị rối loạn giấc ngủ, ví dụ như bị mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều.[18] Một số vấn đề khác về sức khỏe như đau đầu, đau bụng, đau lưng, táo bón, ỉa chảy...đều là những triệu chứng phổ biến ở những người bị trầm cảm.[19] Những triệu chứng đó có thể ảnh hưởng tới hiệu quả công việc.
  6. Để ý tới những thay đổi về cân nặng. Bệnh trầm cảm có liên quan tới sự tăng hoặc giảm cân. Chúng đều là hậu quả của bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, liệu trầm cảm bắt nguồn từ sự thay đổi cân nặng hay ngược lại vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Ví dụ, một người bị béo phì và bị trầm cảm do tự ti về cơ thể mình và trở nên thiếu tự tin. [20]

Sự Khác biệt giữa các Giới tính Khi mắc bệnh

  1. Đàn ông thường che giấu cảm xúc nhiều hơn. Có nhiều khác biệt giữa nam giới và phụ nữ khi họ mắc bệnh trầm cảm, hoặc trong việc họ thể hiện những triệu chứng, và đôi khi còn khác biệt trong cả thái độ giận dữ.[21] Đặc biệt, nam giới thường ít biểu lộ bệnh trầm cảm qua cảm giác và cảm xúc hơn. Họ ít thể hiện nỗi buồn, sự vô vọng và cảm giác vô dụng bằng lời nói hơn.
    • Thay vào đó, họ thể hiện sự trầm cảm qua việc nổi giận và thất vọng với những hành vi gây hấn nhỏ nhất.[22] Họ thường thể hiện các triệu chứng với biểu hiện là sự khó chịu. Nam giới cũng thường than phiền về sự mệt mỏi và mất ngủ thường xuyên hơn, và giảm hứng thú đối với các hoạt động yêu thích.[23]
  2. Một người đàn ông bị trầm cảm cũng có thể sẽ trốn tránh giao tiếp xã hội. Do có sự khác biệt rất lớn giữa những gì họ đang cảm thấy và những gì xã hội “muốn” họ cảm thấy, đàn ông thường cố gắng giảm tối đa thời gian dành cho bạn bè và gia đình. Thay vào đó, họ sẽ lao đầu vào công việc, hoặc lạm dụng thuốc thang và rượu bia để giải sầu. [24]
  3. Chú ý tới sự thay đổi trong thói quen tình dục. Bệnh trầm cảm ở nam giới thường làm gia tăng các vấn đề về tình dục. Nó sẽ gây ra sự mất hứng thú và góp phần dẫn tới chứng liệt dương. [25]
    • Đàn ông thường dùng những điều mà xã hội cho là đúng và dễ chấp nhận để che giấu các triệu chứng trầm cảm. Họ thường cho rằng các triệu chứng đó là do sự căng thẳng chứ không phải là do bệnh trầm cảm.
  4. Hiểu rằng hành vi sự sát có ảnh hưởng khác nhau tới nam giới và phụ nữ. Dù phụ nữ có xu hướng cố gắng tự sát nhiều hơn, đàn ông mới thật sự bị tử vong do tự sát nhiều hơn. Đó là do đàn ông thường hành động nhanh chóng và vội vàng hơn khi có ý định tự sát. Họ cũng thường dùng các phương pháp có độ sát thương cao hơn, ví dụ như súng, để thực hiện hành vi này. Trong khi đó, phụ nữ thường cởi mở về suy nghĩ của mình hơn, và thường dùng các biện pháp tự sát có khả năng thành công thấp hơn như uống thuốc quá liều.[26]
    • Đàn ông thường ít bộc lộ ý định của mình cho người khác biết. Khi không nhìn thấy dấu hiệu cảnh báo nào, người thân và gia đình của họ thường không kịp can thiệp.
  5. Hiểu rằng trầm cảm thường xảy ra phổ biến ở phụ nữ hơn nam giới. Tuy nhiên, có thể là do phụ nữ dễ dàng bộc lộ tình trạng của mình hơn, hoặc do nam giới cho rằng họ không bị bệnh trong khi phụ nữ thì có. Dù sao, có những lí do để tạm kết luận rằng phụ nữ dễ bị trầm cảm hơn nam giới:[27]
    • Thay đổi hooc-môn.
    • Thai nghén.
    • Mãn kinh.
    • Bệnh suy giáp.[28]
    • Các bệnh mãn tính (Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh tật thường gây ra trầm cảm ở phụ nữ nhiều hơn nam giới).
  6. Biết rằng hooc-môn (nội tiết tố) có thể gây ảnh hưởng tới phụ nữ. Hooc-môn có mối quan hệ trực tiếp tới các chất kiểm soát tâm trạng và cảm xúc trong não. Sự biến động về nội tiết tố thường xảy ra trong chu kỳ kinh nguyệt, mãn kinh, có bầu hoặc sau sinh. Việc này có thể bắt đầu theo chu kỳ (tạm thời) và dẫn tới bệnh trầm cảm mãn tính (một trận chiến suốt đời). [29]
    • Ngoài sự thay đổi về nội tiết tố, những trách nhiệm dồn lên người phụ nữ khi sinh con là rất lớn, đối với vài người thì là rất khủng khiếp và có thể dẫn tới bệnh trầm cảm - cụ thể là chứng trầm cảm sau sinh.
  7. Hiếu được những căng thẳng mà phụ nữ đang chịu có thể dẫn tới bệnh trầm cảm như thế nào. Các yếu tố về tâm lý xã hội cũng dẫn tới tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm cao ở phụ nữ.[30] Phụ nữ có thể cảm thấy bị áp lực trong việc chăm sóc gia đình, làm việc bán thời gian hoặc toàn thời gian, và sự căng thẳng khi phải cố gắng vun đắp cho các mối quan hệ bền chặt.
  8. Biết rằng yếu tố thời tiết cũng ảnh hưởng tới phụ nữ nhiều hơn nam giới. Bệnh trầm cảm thường xuất hiện vào một mùa nhất định được gọi là bệnh trầm cảm theo mùa (Seasonal Affective DisordeR - SAD). Nó xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn nam giới.[31] Loại bệnh trầm cảm này sẽ kết thúc vào mùa ấm như mùa xuân hoặc hè, nhưng sẽ quay trở lại vào mùa đông. Dù nguyên nhân của loại trầm cảm này rất khác, nhưng triệu chứng thì vẫn giống nhau - buồn, thay đổi tâm trạng, lo âu, thèm đồ ngọt và carbonhydrate, và rối loạn giấc ngủ.
    • SAD là loại bệnh trầm cảm bắt nguồn từ việc thay đổi lượng ánh sáng giữa các mùa. Những người sống ở các vùng lạnh giá, nơi mùa đông kéo dài và tuyết rơi dày đặc thường dễ mắc bệnh này.[32]

Lời khuyên

  • Nếu bạn cần phải mô tả bệnh trầm cảm cho ai đó, hãy hỏi chuyện thêm với một người đã từng trải qua bệnh trầm cảm.

Cảnh báo

  • Nếu bạn đang cố gắng diễn tả bệnh trầm cảm của chính mình và có ý định tự sát, hãy gọi tới Đường dây nóng Ngăn ngừa Tự sát Quốc gia của Mỹ tại số: 1-800-273-TALK (8255). Nếu ở Việt Nam, bạn có thể gọi tới đường dây nóng 1900599930 phím số 1 để liên hệ với Trung tâm Phòng chống khủng hoảng tâm lý và tự tử (PCP)

Nguồn và Trích dẫn

  1. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/definition/con-20032977
  2. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/symptoms/con-20032977
  3. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC486942/
  4. https://www.psychologytoday.com/articles/200207/when-depression-hurts
  5. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/definition/con-20032977
  6. https://www.psychologytoday.com/blog/hide-and-seek/201206/depressive-realism
  7. https://www.psychologytoday.com/blog/brain-sense/200912/depression-and-anhedonia
  8. http://www.wingofmadness.com/what-does-depression-feel-like/
  9. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/symptoms/con-20032977
  10. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/symptoms/con-20032977
  11. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/suicide/basics/definition/con-20033954
  12. http://www.nimh.nih.gov/health/topics/depression/index.shtml?utm_source=BrainLine.orgutm_medium=Twitter
  13. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/causes/con-20032977
  14. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/risk-factors/con-20032977
  15. http://www.nimh.nih.gov/health/statistics/prevalence/major-depression-among-adults.shtml
  16. http://www.cdc.gov/nchs/fastats/deaths.htm
  17. http://bjp.rcpsych.org/content/178/3/200
  18. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/basics/symptoms/con-20032977
  19. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC486942/
  20. http://www.apa.org/helpcenter/obesity.aspx
  21. http://bjp.rcpsych.org/content/177/6/486
  22. http://www.health.com/health/gallery/0,,20521449_last,00.html
  23. http://www.health.com/health/gallery/0,,20521449,00.html
  24. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/depression/in-depth/male-depression/art-20046216?pg=2
  25. http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/erectile-dysfunction/basics/causes/con-20034244
  26. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3539603/
  27. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3539603/
  28. http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/ency/article/000945.htm
  29. http://www.nimh.nih.gov/health/publications/depression-in-women/index.shtml
  30. http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18062737
  31. http://link.springer.com/article/10.1007%2Fs007370050040
  32. http://womenshealth.gov/publications/our-publications/fact-sheet/depression.html

Liên kết đến đây