Hành Trang Khoa Học/Giản đồ ý

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Chia sẻ lên facebook Chia sẻ lên twitter Chia sẻ lên google-plus In trang này

Lưu ý: Trong bài có một số kí tự dùng phông chữ Winding và Symbol của Microsoft - Chúng có thể không hiển thị được nếu không có các phông chữ này trên máy của bạn. Tuy nhiên, các kí tự này sẽ không ảnh hưởng đến nội dung mà chỉ có tính chất minh hoạ


Khác với các bài trước, phương pháp giản đồ ý (mind map) được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh cuả bộ não. Nó có thể dùng như một cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Khác với máy vi tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện cuả 1 câu truyện) thì bộ não còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau và ghi nhận chi tiết theo 2 hay 3 chiều. Phương pháp minh hoạ tận dụng các khả năng này của bộ não.

Phương pháp này có lẽ đã được nhiều người Việt biết đến nhưng nó chưa bao giờ được hệ thống hoá và được nghiên cứu kĩ lưỡng và phổ biến chính thức trong nước mà chỉ được dùng "tản mạn" trong giới SV/HS trước mỗi kì "gạo bài".

Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể cuả vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng được liên hệ với nhau bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn.

Thay vì dùng chữ viết để mô tả (một chiều) giản đồ ý sẽ phơi bày cấu trúc một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ ra "dạng thức" cuả đối tượng, sự quan hệ (hỗ tương giữa các khái niệm liên quan (tạm gọi là "điểm chốt") và cách liên hệ giưã chúng với nhau bên trong cuả một vấn đề lớn.

Sử dụng

Giản đồ ý đơn giản cho việc nhớ các dạng câu hỏi
  • Ghi nhớ chi tiết cấu trúc đối tượng hay sự kiện mà chúng chứa các mối liên hệ phức tạp hay chằng chéo.
  • Tổng kết dữ liệu.
  • Hợp nhất thông tin từ các nguồn nghiên cứu khác nhau.
  • Động não về một vấn đề phức tạp.
  • Trình bày thông tin để chỉ ra cấu trúc của toàn bộ đối tượng.
  • Ghi chép (bài giảng, phóng sự, sự kiện...).
  • Khuyến khích làm giảm sự mô tả của mỗi ý mỗi khái niệm xuống thành một từ (hay từ kép).
  • Toàn bộ ý của giản đồ có thể "nhìn thấy" và nhớ bởi trí nhớ hình ảnh - Loại trí nhớ gần như tuyệt hảo.
  • Sáng tạo các bài viết và các bài tường thuật.
  • Là phương tiện cho học tập hay tìm hiểu sự kiện.

Với giản đồ ý, người ta có thể tìm ra gần như vô hạn số lượng các ý tưởng và cùng một lúc sắp xếp lại các ý đó bên cạnh những ý có liên hệ. Điều này biến phương pháp này trở thành công cụ mạnh để soạn các bài viết và tường thuật, khi mà những ý kiến cần phải được ghi nhanh xuống. Sau đó tùy theo các từ khóa (ý chính) thì các câu hay đoạn văn sẽ được triển khai rộng ra.

Một thí dụ điển hình là việc đọc sách nghiên cứu khoa học, thay vì chỉ đơn thuần đọc, dùng giản đồ ý trong khi đọc mỗi lần nảy ra được vài ý hay hoặc ý quan trọng thì chỉ thêm chúng vào đúng vị trí trong cái giản đồ.

Sau khi đọc xong cuốn sách thì người đọc sẽ có được một trang giấy tổng kết tất cả những điểm hay và mấu chốt của cuốc sách đó. Có thể thêm thắt vào nhiều ý tưởng nghĩ ra trong lúc đọc. Điều này sẽ làm tăng chất lượng hấp thụ kiến thức từ cuốn sách.

Nếu muốn nắm thật tường tận các dữ liệu đọc được thì chỉ việc tiến hành vẽ lại cái giản đồ ý này bằng trí nhớ vài lần.

Lich sử cuả phương pháp

Được phát triển vào cuối thập niên 60 cuả thế kỉ 20 bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Các ghi chép này sẽ nhanh hơn và dễ nhớ và dễ ôn tập hơn  1.

Giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã truyền bá kĩ xảo về Giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục.  2

Đặc Điểm

so với các cách thức ghi chép truyền thống:

  • Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng.
  • Sự quan hệ hổ tương giưã mỗi ý được chỉ ra tường tận. Ý càng quan trong thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính.
  • Sự liên hệ giưã các khái niệm then chốt sẽ được chấp nhận lập tức.
  • Ôn và nhớ sẽ hiêu quả và nhanh hơn.
  • Thêm thông tin (ý) dễ dàng hơn.
  • Mỗi giản đồ sẽ phân biệt nhau dể dàng hơn cho việc gợi nhớ.

Phương Thức tiến hành

Giản đồ ý cho thấy liên hệ giữa các thiết bị phần cứng trong máy vi tính
Ghi chú trên hình 1.CPU, 2.Bộ nhớ, 3.BUS, 4.Các bộ điều khiển I/O, 5.Bộ điều khiển video 6.Cổng nối tiếp, 7.USB, 8.Ổ diã, 9. Ổ CD, 10.Màn hình, 11.NIC, 12.Cổng song song, 13.Bàn phím, 14.Chuột, 15.Máy in, 16.Mạng, 17.Máy quét hình, 18.Máy chụp hình số, 19.Máy phóng hình

Có nhiều cách đây là 1 thí dụ:

  • Viết hay vẽ đề tài cuả đối tượng xuống giữa trang giấy và vẽ 1 vòng bao bọc nó - Xử dụng màu. Nêú viết chữ thì hãy cô dọng nó thành 1 từ khoá chính (danh từ kép chẳng hạn).
  • Cho mỗi ý quan trọng vẽ 1 "đường" phân nhánh xuất phát từ hình trung tâm (xem hình thí dụ).
  • Từ mỗi ý quan trọng trên lại vẽ các phân nhánh mới các ý phụ bổ xung cho nó.
  • Từ các ý phụ này lại mở ra các phân nhánh chi tiết cho mỗi ý.
  • Tiêp tục phân nhánh như thế cho đến khi đạt được giản đồ chi tiết nhất (hình rễ cây ma gốc chính là đề tài đang làm việc).

Lưu ý: Khi tiến hành một giản đồ ý nên

  • Sử dụng nhiều màu sắc.
- Sử dụng hình ảnh minh hoạ nếu có thể thay cho chư viết cho mỗi ý.
- Mỗi ý, nếu không thể dùng hình phải rút xuống tối đa thành một từ khoá ngắn gọn.
- Tâm ý nên được để tự do tối đa. Bạn có thể nảy sinh ý tuởng nhanh hơn là khi viết ra.
  • Việc dùng kí hiệu hay biểu tượng qua hình vẽ: Các kí hiệu hay biểu tượng qua hình vẽ sẽ giản đồ sống động hơn
- Các hình mũi tên 1 8 H E ] u ˆ  ´ ¶ Ï thường chỉ ra chiều hướng và kiểu liên hệ giưã các đối tượng
- Kí tự đặc biệt như! ? {} & * | © ® " $ ' # $ @ ™ ® sẽ tăng "chất lượng cô đọng cuả ý và làm rõ nghiã cho giản đồ hơn.
- Các hình vẽ D O © ¨ Ð ¯ ñ để hình tượng hoá các ý và giúp biểu thị các kiểu lời giải
- Các hình đặc thù " @ ~ Ñ: biểu thị các đặc tính kĩ thuật (thí du khi muốn dùng phưong pháp hoá học thì ta vẽ 1 cái ống nghiệm, phương pháp cơ khí thì dùng hình búa kềm, sinh học thì vẽ cây,...)
-Màusc sẽ giúp nhớ dễ hơn

Cụ thể hóa

  • Ghi chép (bài giảng, phóng sự, sự kiện...) -- Dùng cách này sẽ có nhiều điểm mạnh so với các phương pháp khác như là:
-Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình bất chấp thứ tự cuả sự trình bày.
-Nó khuyến khích làm giảm sự mô tả cuả mỗi ý mỗi khái niệm xuống thành 1 từ (hay từ kép).
-Toàn bộ ý cuả giản đồ có thể "nhìn thấy" và nhớ bởi trí nhớ hình ảnh --Loại trí nhớ gần như tuyệt hảo.
  • Sáng Tạo các bài viết và các bài tường thuật:
-Với Mind map người ta có thể tìm ra gần như vô hạn số lượng các ý tưởng và cùng một lúc sắp xếp lại các ý đó bên cạnh những ý có liên hệ. Điều này biến phương pháp trở thành công cụ mạnh để soạn các baì viết và tường thuật, khi mà nhừng ý iến cần phải được ghi nhanh xuống. Sau dó tùy theo các từ khoá (ý chính) thi các câu hay đoạn văn sẽ được triển khai rộng ra.
  • Phương tiện dể dàng cho học vấn hay tìm hiểu sự kiện
-Một ví dụ điển hình là việc đọc sách nghiên cứu khoa hoc, thay vì chỉ đơn thuần đọc, dùng mind map trong khi đọc mỗi lần bạn "tóm" được vài ý hay hoặc quan trọng thì chỉ thêm chúng vào đúng vị trí trong cái giản đồ.
-Sau khi đọc xong cuốn sách thì bạn cũng có 1 trang giấy tổng kết tất cả những điểm hay và mấu chốt cuả cuốc sách đó. Bạn cũng có thể thêm thắt vào nhiều ý tưởng bạn nghĩ ra trong lúc đọc. Điều này sẽ làm tăng chất lượng hấp thụ kiến thức từ cuốn sách.
-Nếu bạn muốn nắm thật tường tận các đữ liệu đọc được thì chỉ việc tiến hành vẽ lại cái giản đồ ý này bằng trí nhớ vài lần.
  • Tiện lợi cho nhóm nghiên cứu:
-Một nhóm có thể làm việc chung và lập nên 1 giản đồ ý bởi các bước sau:
-Mỗi cá nhân vẽ các mind map về những gì đã biết được về đối tượng
-Kết hợp với các cá nhân để thành lập mind map chung về các yếu tố đã biết
-Quyết định xem nên học những gì dựa vào cái giản đồ này cuả nhóm
-Mỗi người tự nghiên cứu thêm về đề tài, Tùy theo yêu cầu mà tất cả chú tâm vào cùng 1 lãnh vực dể đào sâu thêm hay chia ra mỗi người 1 lãnh vực để đẩy nhanh hơn quá trình. Mỗi người tự hoàn tất trở lại mind map cuả mình
-Kết hợp lần nưã để tạo thành giản đồ ý cuả cả nhóm.
  • Dùng trong diễn thuyết: Dùng 1 giản đồ ý bao gồm toàn bộ các ghi chép sẽ có nhiều tiện lợi so với các kiểu ghi chép khác là vì:
-Súc tích: chỉ cần một trang giấy duy nhất
-Không phải "đọc theo" -- Mỗi ý kiến đã dược thu gọn trong 1 từ; bạn sẽ không phải đọc theo những gì đã soạn thành bài văn.
-Linh hoạt: Nếu như có người đặt câu hỏi bạn có thể tìm ngay ra vị trí liên hệ cuả câu hỏi với giản đồ ý. Như vậy bạn sẽ không bị lạc khi tìm cho ra chỗ mà câu trả lời cần đến.

Bài tập

  • Thực tập dùng giản đồ ý để chi chép lại các bài giảng ở trường.

Tham khảo

1:  Expanding the Mind

2:  Peter Russell M.A., D.C.S., F.S.P



Liên kết đến đây

Chia sẻ lên facebook Chia sẻ lên twitter Chia sẻ lên google-plus In trang này