Ý nghĩa triết học của mối quan hệ đặc biệt giữa vật chất và năng lượng/4b

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

2. Một số biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đặc biệt giữa vật chất và năng lượng.(tiếp)

g. Một số biểu hiện của sự hấp thụ và giải phóng năng lượng trong đời sống.

Có sự tương tự với sự cảm nhận các vị hay cảm nhận các màu ánh sáng, chúng ta cảm nhận được các mùi khác nhau do các dòng năng lượng tạo mùi có các mức năng lượng khác nhau. Mùi do năng lượng tạo nên do đó có thể có nhiều chất khác nhau nhưng có chung một mùi. Một chất bình thường là không mùi, nhưng có thể trở thành một chất mang mùi sau khi tiếp xúc với một chất có mùi do nó đã hấp thụ mùi của chất đã tiếp xúc với nó. Trong việc chế biến thức ăn, bổ xung một số loại gia vị có thể làm cho thức ăn trở nên dễ tiêu hoá khi gia vị làm thoát năng lượng liên kết trong thức ăn hoặc chúng biến đổi, bổ xung dòng năng lượng liên kết để tạo hương vị thơm ngon hơn. Các loại gia vị có tính làm thoát năng lượng trong thức ăn trở thành đồng minh của hệ thống tiêu hoá, nhưng chúng làm cho thức ăn trở nên dễ ôi thiu hơn, khó bảo quản hơn. Ngược lại, những loại gia vị bổ xung năng lượng liên kết cho thức ăn giúp cho việc bảo quản thức ăn được lâu hơn, nhưng chúng làm cho thức ăn trở nên khó tiêu hoá hơn, chúng mang tính hàn trong quan niệm của người phương đông, tác dụng của chúng giống như tác dụng của các chất bổ, Các loại gia vị làm thoát năng lượng thường có tính nóng và tác dụng của chúng giống như tác dụng của các chất độc. Nhiều loại đồ uống như chè, cà phê cũng có tác dụng cung cấp năng lượng cho cơ thể không bởi các phản ứng hoá học. Hiểu được tính năng, tác dụng của từng loại gia vị, tính chất của từng loại thức ăn, xác định được phương pháp phối kết hợp giữa các loại gia vị và thức ăn sẽ mang lại hiệu quả sử dụng thức ăn cao, tránh lãng phí do việc làm giảm hoặc mất khả năng tiêu hoá thức ăn. Hơn thế, khi xác định được mức độ ảnh hưởng của các dòng năng lượng từ các loại thức ăn đến cơ thể, chúng ta còn xây dựng được chế độ dinh dưỡng có lợi nhất không chỉ cho cơ thể mà còn cho lợi ích kinh tế. Cơ thể sinh vật không chỉ cần chất dinh dưỡng mà còn cần năng lượng cho sự sinh trưởng. Cùng một loại dinh dưỡng, nhưng mỗi loài, mỗi cơ thể sinh vật cần những dạng năng lượng phù hợp để tạo ra các cấu trúc cơ thể của riêng loài hay riêng của cá thể đó. Cung cấp đủ dinh dưỡng nhưng thiếu năng lượng thì dinh dưỡng trở nên vô ích, đủ năng lượng nhưng thiếu dinh dưỡng nhiều khi có thể có hại. Đảm bảo sự cân bằng giữa dinh dưỡng và năng lượng là một yêu cầu thực tế của cuộc sống.

Một ứng dụng khác trong cuộc sống hàng ngày của nguyên lí làm suy giảm năng lượng dẫn đến phá vỡ các cấu trúc vật chất là việc sử dụng các chất tẩy rửa. Xà phòng có tính axit có bổ xung thêm một số en zym sẽ làm suy giảm dẫn đến phá vỡ liên kết giữa các chất bẩn và sợi vải hay các đối tượng cần tẩy rửa, sử dụng thêm một số tác động cơ học nữa là quần áo được làm sạch. Cũng xin nói thêm rằng trong việc tẩy rửa, loài người đang sử dụng ba nguyên lí tẩy rửa khác nhau, đó là tẩy theo nguyên lí làm suy giảm năng lượng liên kết, làm tăng năng lượng liên kết cục bộ ( dẫn đến sự co kéo cục bộ trong các chất bám bẩn ,còn liên kết toàn bộ bị phá hoại) và biến đổi thành các chất không còn khả năng bám dính lên bề mặt cần tẩy rửa.

Hệ thần kinh tiếp nhận các tác động của môi trường lên cơ thể và các biến đổi diễn ra trong cơ thể bằng các cảm giác, trong đó có cảm giác đau. Cảm giác đau có thể được gọi là một sự cảnh báo về một tác động có tính phá hoại đến một cấu trúc, một bộ phận nào đó của cơ thể. Một cấu trúc trong cơ thể bị phá hoại khi nó bị tác động làm mất năng lượng liên kết của nó. Viêm sưng là sự mất năng lượng của các mô trong cơ thể. Sự kéo rút làm dãn khoảng cách giữa các phần tử liên kết trong mô cũng làm cho năng lượng liên kết của mô thoát ra và gây đau. Để làm mất cảm giác đau, nguyên lí chung là phục hồi lại cấu trúc ban đầu của các mô. Nói chung có nhiều phương pháp để làm điều này. Nhưng về cơ bản có hai phương pháp : cấp bù năng lượng đã mất và triệt tiêu tác dụng co kéo đã làm dãn phần mô bị đau. Moóc phin có tác dụng cấp bù năng lượng cho phần mô bị đau nên có tác dụng giảm đau. Dùng các hoạt chất có tính cay nóng làm cho vùng xung quanh mô bị đau dãn ra, mô bị đau không còn bị co kéo, khoảng cách giữa các phân tử trong mô thu hẹp lại, cường độ lực liên kết tăng, mô được phục hồi nên cảm giác đau sẽ dịu đi. Cấp bù năng lượng là phương pháp tác động trực tiếp lên mô bị đau, còn làm dãn các mô xung quanh mô bị đau là phương pháp gián tiếp. Giảm đau bằng việc làm phục hồi các mô bị đau là chữa đau ở gốc, còn làm giảm đau bằng cách tác động làm suy giảm sự dẫn truyền kích thích thần kinh là chữa đau ở ngọn. Lựa chọn phương pháp nào là tuỳ thuộc từng trường hợp cụ thể. Điều quan trọng là đạt hiệu quả cao và không hậu quả xấu.

h. Linh hồn là gì?

Cơ thể của mỗi sinh vật và của mỗi chúng ta luôn hấp thụ và giải phóng năng lượng. Mỗi bộ phận của cơ thể và nhỏ hơn nữa là từng phân tử hoá học trong cơ thể đều có nhu cầu và có thể giải phóng một hoặc nhiều dạng năng lượng có cường độ hoặc thế năng lượng khác nhau. Với một phạm vi nào đó của sự hấp thụ và giải phóng năng lượng, các cấu trúc vật chất tạo nên các bộ phận cơ thể không bị phá hoại mà chỉ thay đổi trạng thái, tính chất .sự thay đổi này là cơ sở cho hoạt động sống của cơ thể. Sự thay đổi đó diễn ra với biên độ càng rộng thì hoạt động sống càng mạnh mẽ và phong phú. Ngược lại thì hoạt động sống sẽ chậm chạp và có thể chấm dứt. Biên độ và tốc độ thay đổi trạng thái của một cấu trúc trong cơ thể phụ thuộc vào mức độ và tốc độ hấp thụ hay giải phóng năng lượng, và như vậy cũng có nghĩa là hoạt động sống phụ thuộc vào năng lượng, phụ thuộc vào khả năng hấp thụ và giải phóng năng lượng của từng bộ phận trong cơ thể. Khả năng này mất đi thì hoạt động sống chấm dứt. Năng lượng tạo nên sự thay đổi trạng thái của cơ thể sinh vật và do đó hoạt động được thực hiện. Nhưng mỗi cơ thể sinh vật cần một số dòng năng lượng riêng để tạo ra sự thay đổi đó. Nói cách khác, những dòng năng lượng mà một cơ thể sinh vật cần để tạo nên hoạt động sống cho nó chính là linh hồn của sinh vật đó. Dòng năng lượng này mất đi mà không có sự bổ xung, thay thế kịp thời hoặc bị kìm hãm để không tạo được sự thay đổi trạng thái cho các cấu trúc trong cơ thể sinh vật thì có nghĩa là cái chết đã đến, cơ thể sinh vật chỉ là cái xác không hồn. Vậy linh hồn có phải là một thực thể tròn trĩnh và không thay đổi hay không? Câu trả lời là không. Linh hồn là năng lượng được tập hợp trong một cơ thể sống, chúng phân tán khi ra khỏi cơ thể và có thể được nhiều cấu trúc vật chất bất kì hấp thụ . khi tồn tại trong một cơ thể sinh vật, với một mức độ tương đối, có thể chia linh hồn thành 3 dạng : một dạng tạo nên liên kết cho các cấu trúc trong cơ thể, một dạng tạo nên sự vận động và một dạng thứ 3 quan trong nhất là dạng có tính bảo vệ sự sống. Sự mất đi hay sự không tồn tại của dạng năng lượng thứ 3 này trong một cơ thể sinh vật, tuỳ theo từng cá thể hay từng loài trong một khoảng thời gian nào đó sẽ dẫn đến cái chết . Vì tính chất này mà dạng thứ 3 mang đặc trưng cơ bản của linh hồn. Dạng thứ nhất tạo ra và đảm bạo độ bền cho các liên kết trong cơ thể, giúp cho phần xác tồn tại. Còn dạng thứ hai sinh ra từ phản ứng phân giải glucit nên nó chỉ có tác dụng khi sinh vật còn sống. Dạng thứ nhất và thứ ba có thể cùng chung một nguồn và được đưa vào cơ thể bằng nhiều con đường khác nhau. Vì có chung nguồn gốc là năng lượng nên ba dạng linh hồn nói trên có thể chuyển đổi lẫn nhau nhưng không phải chuyển đổi tự do, vì vậy không thể thay thể, bổ xung cho nhau kịp thời và nhanh chóng để duy trì sự sống, phần linh hồn bảo vệ sự sống bị suy giảm thì cái chết đến gần. Xét về tính chất, dạng linh hồn thứ 3 là phần năng lượng chưa chuyển thành dạng năng lượng liên kết, đo đó chúng dễ thoát ra ngoài. Do mật độ cao nên chúng cũng làm tăng một phần độ bền liên kết và luôn có xu hướng chuyển thành năng lượng liên kết. Nguồn cung cấp chúng đến từ bên ngoài cơ thể. Chúng là mùi thơm của hoa, vị ngon ngọt của thức ăn, nước uống, chúng đến từ sự vuốt ve âu yếm, sự tiếp xúc giữa hai làn da. Sự sảng khoái dễ chịu mà ta nhận được từ vườn hoa đang ngát hương là biểu hiện của sự xâm nhập của linh hồn vào cơ thể chúng ta. Linh hồn trong các vị thuốc bổ giúp chúng ta khoẻ mạnh, chống lại bệnh tật, chống lại sự tấn công của các chất độc. Sự tồn tại của năng lượng tự do trong không khí hoặc được các chất khí hấp thụ xâm nhập vào cơ thể khi ta thở đã được tiền nhân nâng lên thành các phép luyện khí, vận công, các phép dưỡng sinh bằng luyện thở hoặc bằng các con đường khác qua da như thiền định. Chúng đã được gọi là khí trong quan niệm của người phương đông. Những linh hồn giúp ích cho sự sống là những linh hồn đem lại sự dẻo dai, bền bỉ, sự năng động, đem lại khả năng chống lại sự khắc nghiệt của môi trường sống, đem lại tâm hồn cao thượng và lòng vị tha, nhân hậu… còn những linh hồn đến từ các chất ma tuý là những linh hồn tội lỗi, linh hồn của quỷ dữ.

Ứng dụng sự di chuyển của các dòng năng lượng qua da giúp cho việc điều trị một số bệnh tật mà như phần nói về các chất độc và chất bổ có nêu phương pháp chữa cảm cúm bằng cạo gió và làm giảm đau bằng các hoạt chất có tính cay nóng. Nghiên cứu sâu thêm về phương pháp này và sử dụng chúng là chúng ta sẽ có một phương pháp điều trị tốt bởi không phải đưa các hoá chất vào cơ thể, do đó tránh được các tác dụng phụ do thuốc đem đến. Nói một cách tổng quát, sự không ổn định của năng lượng trong cơ thể sinh vật là tiền đề của hoạt động sống. Nhưng sự không ổn định đó là có giới hạn. Sự bất ổn vượt quá giới hạn thì chính sự vận động quá mức hoặc sự bất động sẽ chấm dứt sự sống. Bệnh tật là một trong những nhân tố làm cho sự không ổn định vượt quá các giới hạn. Việc dùng các biện pháp điều chỉnh sự ổn định năng lượng trong giới hạn sẽ làm cho bệnh tật thuyên giảm, hay nguyên lí chữa bệnh là điều chỉnh năng lượng trong cơ thể ổn định trong phạm vi cho phép của từng cá thể trong từng giai đoạn sống. Chúng ta có rất nhiều phương pháp cho điều này, từ việc dùng các loại thuốc bổ bổ hoặc thuốc độc với các liều lượng thích hợp, từ việc đưa thuốc và trong cơ thể tới việc chỉ điều chuyển năng lượng qua da bằng thuốc hoặc không dùng thuốc như các phép khí công dưỡng sinh, yôga, thiền định hay điều chuyển các dòng năng lượng trong cơ thể bằng châm cứu, day bấm huyệt v,v… Nhưng dù bằng phương pháp nào thì cũng đều cần có sự theo dõi chặt chẽ hiệu quả của phương pháp được áp dụng bởi nếu không thì phương pháp mà chúng ta áp dụng thái quá có thể dẫn đến một sự bất ổn quá mức hay kết quả ngược với mong muốni.

Không chỉ có các chất hữu cơ, mà cả các chất vô cơ, thậm chí cả các đơn chất cũng hấp thụ và giải phóng năng lượng. Dạng năng lượng dễ được hấp thụ và giải phóng, đồng thời dễ nhận thấy nhất là nhiệt năng, kế đó là quang năng và các dạng năng lượng khác. Nhận thức ban đầu của nhân loại về năng lượng có lẽ là nhiệt năng, sau đó, bằng sự tiến hoá, sinh giới đã nhận biết thêm các dạng năng lượng khác bằng hệ thống cảm giác như mùi vị, ánh sáng. Nhưng mùi vị chưa được nhân loại công nhận là năng lượng bởi người ta cho rằng tác động tạo ra mùi vị là tác động cơ học hay hoá học. Đây là điều cần được nhận thức lại một cách đúng đắn bởi chúng ta đã biết rằng sự tiếp nhận thị giác là sự tiếp nhận năng lượng dưới dạng bức xạ của hệ thống cảm giác, sự cảm nhận vị giác chỉ có được khi chất mang vị tiếp xúc với cơ quan vị giác, còn nhận biết bằng khứu giác thì không cần sự tiếp xúc trực tiếp đó. Và cũng giống như thị giác phân biệt các mức năng lượng bằng màu sắc, khứu giác và vị giác phân biệt các mức năng lượng bằng các mùi và các vị. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đem đến cho nhân loại nhiều phương tiện và phương pháp để nhận biết nhiều dạng năng lượng khác mà các cơ quan cảm giác của con ngừơi không nhận biết được. Nhưng các phương tiện kỹ thuật hiện nay đã phát hiện được tất cả các dạng năng lượng hay chưa? Câu trả lời có lẽ khôn ngoan nhất là chưa. Câu trả lời này còn có thể là đúng ngay với những dạng năng lượng đang tồn tại xung quanh và ngay trong mỗi cơ thể của chúng ta, từng giây, từng phút đang làm biến đổi cơ thể chúng ta. Nhận diện được chúng sẽ có ý nghĩa dặc biệt quan trọng cho sự sống. Có hai yếu tố làm cho chúng ta khó nhận diện được hết các dạng năng lượng: thứ nhất –do tính chất của các cấu trúc vật chất là trong những điều kiện xác định, mỗi cấu trúc chỉ có thể hấp thụ hoặc giải phóng một số dạng năng lượng nhất định, thứ hai- do cường độ tác dụng của các dòng năng lượng quá yếu nên không tạo được ngay một sự biến đổi nào, chúng chỉ tạo được các biến đổi chậm chạp hay sau một thời kỳ tích luỹ. Sự di chuyển của chúng cũng có nhiều hình thức. Hình thức dễ nhận biết nhất là bức xạ ánh sáng. Các hình thức khác là sự truyền dẫn như sự truyền nhiệt từ vật này sang vật khác hoặc sự lan toả năng lượng do chênh lệch mật độ năng lượng, sự di chuyển của các vật thể. Hình thức di chuyển của năng lượng, nói chính xác hơn là hình thức di chuyển của các cấu trúc vật chất mang năng lượng, nói chung phụ thuộc vào mức năng lượng tích luỹ trong cấu trúc. Mức năng lượng càng cao thì chúng di chuyển càng nhanh. Ba hình thức di chuyển truyền dẫn, lan toả và bức xạ là ba biểu hiện mức năng lượng từ thấp đến cao của năng lượng. Nhưng đây không phải là ba bậc năng lượng, mà trong mỗi hình thức lại có rất nhiều bậc năng lượng trong các cấu trúc vật chất. Sự thể hiện bậc năng lượng có thể được biểu hiện bằng các hình thức khác như tần số bức xạ. Sự thay đổi tốc độ, hình thức di chuyển và một số biểu hiện khác biểu thị cho mức năng lượng, ngược lại sự thay đổi mức năng lượng dẫn đến sự thay đổi hình thức, tốc độ di chuyển và các biểu hiện khác đó. Đây là nguyên nhân của sự đổi màu của bạc khi cạo gió cho người bị cảm cúm, của đũa kim giao khi nhúng vào thuốc độc, của một số chất màu khi để dưới nắng mặt trời (mà ta thường gọi là sự bay màu). các màu vàng, đỏ có thể chuyển thành bạc trắng khi để lâu trong nắng. Khi cơ thể người có mức năng lượng cao (biểu hiện của sức khoẻ) thì da dẻ cũng tươi sáng hơn, ngược lại, khí sắc sẽ kém tươi hoặc tái sạm, cơ thể mệt mỏi khi mức năng lượng trong cơ thể là thấp.

i. Bản chất của phương pháp điều trị triệu chứng.

Các cấu trúc vật chất khi hấp thụ hoặc giải phóng năng lượng nói chung đều có sự biến đổi. Tuỳ thuộc vào mức độ hấp thụ hoặc giải phóng mà sự biến đổi thể hiện rõ hoặc không. Khi cạo gió ( hay đánh gió ) cho người bị cảm cúm bằng miếng bạc, năng lượng từ các điện tử trong các phân tử bạc truyền sang cơ thể người, mức năng lượng trong các điện tử đó bị suy giảm làm cho động năng của các điện tử giảm theo, tốc độ di chuyển của các điện tử giảm, xác xuất va chạm giữa các điện tử với các lượng tử ánh sáng ít đi, ánh sáng phản xạ từ miếng bạc không còn nhiều nên miếng bạc có màu xám đen. Còn dòng năng lượng này khi xâm nhập vào cơ thể giúp phục hồi lại một phần năng lượng cho cơ thể và vô hiệu hoá chất độc của vi rút cúm. Do không có nguồn dinh dưỡng được tạo ra dưới tác dụng của chất độc, vi rút cúm sẽ bị chết, bệnh cúm sẽ qua. Tác dụng sát trùng của bạc không phải là trực tiếp giết chết vi rút, mà làm cho chất độc của vi rút mất tác dụng. Đây là tác dụng điều trị triệu chứng trong y học. Điều trị triệu chứng, về bản chất, không phải là biện pháp trực tiếp tiêu diệt mầm hay đối tượng gây bệnh, mà là biện pháp triệt tiêu hoặc làm vô hiệu phương tiện gây bệnh. Biện pháp này được áp dụng khi không thể tiêu diệt được đối tượng gây bệnh. Các loại thuốc sử dụng cho điều trị triệu chứng mang tính cung cấp năng lượng cho các phương tiện gây bệnh do vi khuẩn hay vi rút tạo ra và thường là các chất độc.

Mục lục

Liên kết đến đây