Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn gram âm phân lập từ cá basa

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn gram âm phân lập từ cá basa
Antibiotic resistance in Gram-negative bacteria isolated from farmed catfish
 Tạp chí Food Control 2007 tháng 11; 18 (11):1391-1396
 Tác giả   Samira Sarter, Hoang Nam Kha Nguyen, Le Thanh Hung, Jérôme Lazard and Didier Montet
 Nơi thực hiện   CIRAD, Centre de Coopération Internationale en Recherche Agronomique pour le Développement, TA40/16, 73 rue Jean-François Breton, 34398 Montpellier Cedex 5, France

& Nong Lam University, Faculty of Fisheries, Tan Phu, Thu Duc Dist., Ho Chi Minh, Viet Nam

 Từ khóa   Pangasius catfish; Feeding; Antibiotic resistance
  DOI   URL  [ PDF]

Abtract

Feeding practices for Pangasius sp. aquaculture in Mekong Delta (Viet Nam) are assessed and the importance of home-made feeding is highlighted. Farmers spend 5% production cost for disease prevention, mainly antibiotics for prophylactic and therapeutic treatments. Therefore, the study aims to analyse the resistance of fish bacteria to antibiotics to help them improve their practices.

Bacteria isolated from catfish (n = 92) were arbitrarily-selected from 3 different fish farms to analyse their antibiotic resistance and evaluate the antibiotic pressure exerted on the surrounding environment. Antimicrobial susceptibility was examined for selected isolates against 6 major antibiotics using the agar diffusion method: oxytetracycline, chloramphenicol, trimethoprim-sulphamethoxazole, nitrofurantoin, nalidixic acid, and ampicillin. The predominant bacterial microflora consisted of members of the Enterobacteriaceae (49.1%), Pseudomonads (35.2%) and Vibrionaceae (15.7%) families. The main multiple antibiotic resistance profiles included AM-OTC-SXT-NA (17.8% of isolates), OTC-SXT-NA (15.1%), AM-C-FT-SXT-NA (13.7%), AM-FT-OTC (9.6%), AM-C-FT-OTC-SXT-NA (8.2%). MAR index values of the 3 farms ranged from 0.36 to 0.62 which indicates a high-risk exposed-antibiotic source.

These results showed that antibiotic resistance among fish indigenous bacteria is of a high concern in catfish aquaculture in the Mekong River Delta.

Tóm tắt

Phương pháp nuôi dưỡng cá basa được đánh giá trong nghiên cứu này. Khoảng 5% thu nhập từ nuôi cá được nông dân chi phí cho phòng và chữa bệnh cho cá (chủ yếu là chi phí cho kháng sinh phòng trị bệnh). Nghiên cứu được tiến hành nhằm mục đích đánh giá tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh trên cá từ đó giúp nông dân sử dụng thuốc hiệu quả hơn.

Vi khuẩn được phân lập từ cá basa (92 mẫu) nuôi tại 3 trang trại khác nhau để phân tích tính kháng thuốc và đánh giá mức độ tồn dư của kháng sinh ngoài môi trường. Sáu loại kháng sinh dùng cho thí nghiệm sử dụng phương pháp khuyếch tán trên thạch gồm oxytetracycline, chloramphenicol, trimethoprim-sulphamethoxazole, nitrofurantoin, nalidixic acid và ampicillin. Các loại vi khuẩn thường thấy thuộc các họ Enterobacteriaceae (49.1%), Pseudomonads (35.2%) và Vibrionaceae (15.7%). Tỷ lệ các mẫu phân lập kháng đa kháng sinh bao gồm AM-OTC-SXT-NA (17.8% mẫu), OTC-SXT-NA (15.1%), AM-C-FT-SXT-NA (13.7%), AM-FT-OTC (9.6%), AM-C-FT-OTC-SXT-NA (8.2%). Giá trị chỉ số kháng đa kháng sinh của vi khuẩn trên cá của 3 trang trại trong khoảng từ 0.36 đến 0.62 cho thấy nguy cơ cá phải tiếp xúc với kháng sinh trong môi trường cao.

Kết quả cho thấy tính cần thiết của theo dõi và đánh giá tính kháng kháng sinh của vi khuản trên cá basa nuôi tại đồng bằng sông Mêkông. <veterinary>