Primary study on suitable media of adventitious root and mass production of Panax vietnamensis Ha et Grushv

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT MÔI TRƯỜNG THÍCH HỢP TẠO RỄ BẤT ĐỊNH VÀ NHÂN SINH KHỐI SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha et Grushv) IN-VITRO
Primary study on suitable media of adventitious root and mass production of Panax vietnamensis Ha et Grushv
 Tạp chí Công nghiệp (ISSN 0868 3778) 2009 ; 4 ():48-50
 Tác giả   Nguyen Thanh Sum, Nguyen Thi Lieu, Nguyen Van Ket, Dam Sao Mai
 Nơi thực hiện   Ho Chi Minh university of Industry, Ho Chi Minh city, Viet Nam and The Da Lat University, Vietnam
 Từ khóa   Panax vietnamensis, in-vitro, adventitious root, media
  DOI   [ URL]  [ PDF]


ĐẶT VẤN ĐỀ

Sâm Ngọc Linh là một trong những loài cây dược liệu quý hiếm, có giá trị sử dụng cũng như giá trị kinh tế cao. Theo đánh giá của các nhà khoa học, sâm Ngọc Linh có giá trị trị liệu ngang hàng với sâm Triều Tiên (Panax ginseng), sâm Nhật (Panax japonicus), sâm Mỹ (Panax quinquefolius) (Nguyen Van Duc va Nguyen Thoi Nham, 1998a).

Từ thân và rễ sâm Ngọc Linh, người ta đã chiết xuất và xác định được hơn 50 hợp chất saponin, trong đó có 24 saponin có cấu trúc mới (N.T.Nham và Herba, 1989; N.V.Duc và cs., 1993,1994,1996,1998).Các saponin có cấu trúc mới: được đặt tên là vina-ginsenoside-R1 --> R24.

Hàm lượng saponin toàn phần của sâm Ngọc Linh cao hơn nhiều so với các loài sâm khác. Ngoài thành phần chính là saponin, trong sâm Ngọc Linh còn xác định 17 acid amin (trong đó có 8 acid amin không thay thế được), 14 acid béo, 20 chất khoáng và vi lượng và hàm lượng tinh dầu là 0,1%. (Nguyễn Bá Hoạt, 2004).

Sâm Ngọc Linh được xếp vào nhóm thực vật hoang dã nghiêm cấm khai thác và sử dụng… Nhiều chương trình bảo vệ, thuần hóa, di thực sâm Ngọc Linh đã được tiến hành từ nhiều năm nay nhưng kết quả vẫn còn những hạn chế nhất định. Các chế phẩm từ sâm Ngọc Linh cũng được sản xuất rất ít, thậm chí ngưng sản xuất vì thiếu nguồn nguyên liệu.Hiện tại, sâm Ngọc Linh mới chỉ ra khỏi nguy cơ tuyệt chủng, nhưng độ an toàn vẫn đang ở mức thấp.

Do mới được phát hiện nên những nghiên cứu in-vitro trên cây sâm Ngọc Linh chưa nhiều. Hiện nay có rất nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học đang tiến hành nghiên cứu nhân nhanh sinh khối tạo rễ bất định cây sâm Ngọc Linh. Tuy nhiên, chưa có những công bố chính thức đáng tin cậy.

Vì vậy, việc nghiên cứu sản xuất sinh khối rễ sâm Ngọc Linh bằng con đường sinh học qua nuôi cấy in-vitro là thực sự cần thiết và hứa hẹn đem lại hiệu quả kinh tế cao.


SUMMARY

Ngoc Linh ginseng (Panax vietnamensis Ha et Grushv) sample was used with dimension 1cm x 1cm x 0,25cm. The adventitious roots of ginseng were cultured in the MS medium added 30g sucrose/L, 8g agar/L and different concentration of 2.4D. In the experiment on 2.4 D ration in the culture medium, callus and adventitious roots was affected by 2.4 D ratios in the culture medium, showing the greatest productivity at 3mg /L 2.4D after 2 months. The 1cm part of those adventitious roots was cut and transferred into MS, White and Gamborg (B5) medium which are added 30g/L sucrose, 8g/L agar and NAA or IBA with different concentration. The result showed that the adventitious roots of ginseng production were affected by NAA ratios better, showing the greatest productivity at 3mg/L NAA. These results indicated that with 3mg/L, NAA played an important role in adventitious root growth of Ngoc Linh ginseng.

These primary results can be served as a guideline for the mass production of Ngoc Linh ginseng adventitious roots by large-scale production in the short time, instead of growing a young plant which takes long time (5 – 6 years), much money and low capacity to produce



TÓM TẮT

Mẫu cấy củ sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv) có kích thước 1cm x 1cm x 0,25cm trên môi trường MS có bổ sung 30g sucrose/L, 8g agar/L và 2,4D với các nồng độ khác nhau. Thực nghiệm cho thấy, môi trường chứa 3mg/L 2,4D đã cho kết quả hình thành sẹo và rễ bất định tốt nhất sau 2 tháng nuôi cấy. Những đoạn cắt dài 1cm của những mẫu rễ bất định này sau đó được chuyển sang môi trường MS, White và Gamborg(B5) có bổ sung 30g/L sucrose, 8g/L agar, và IBA hoặc NAA với các nồng độ khác nhau. Nghiên cứu cho thấy môi trường White có bổ sung NAA đã đạt được kết quả tăng sinh khối rất khả quan. Như vậy với nồng độ 3mg/L, trong môi trường White, NAA là chất kích thích tạo rễ thích hợp hơn cho nuôi cấy tạo rễ bất định ở sâm Ngọc Linh.

Từ kết quả ban đầu này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới là tạo sinh khối rễ sâm Ngọc linh trong thời gian ngắn, số lượng nhiều thay vì phải nuôi trồng từ cây con mất đến 5-6 năm mới cho thu hoạch, nhưng vốn đầu tư lớn, năng suất không cao.