Vũ trụ trong một nguyên tử/Chương 3

Từ VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Chương 3: Tính Không, Thuyết Tương Đối và Vật lý Lượng tử


Vu tru trong mot nguyen tu 2.jpg


Một trong những điều hấp dẫn nhất về khoa học là sự thay đổi hiểu biết của ta về thế giới được chiếu rọi bởi ánh sáng của những khám phá mới. Ngành vật lý vẫn đang đấu tranh với việc tiềm tàng một dịch chuyển mẫu hình mà nó trải qua như là kết quả của việc xuất hiện lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử ở cuối thế kỉ 20. Các nhà khoa học cũng như triết học đã không ngớt sống với các mô hình mâu thuẫn nhau về thực tại – Mô hình Newton, thừa nhận về một vũ trụ cơ học và dư đoán được, trong khi lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử thừa nhận về một vũ trụ hỗn độn hơn. Sự tiềm tàng của mô hình thứ nhì cho hiểu biết của chúng ta về thế giới chưa hoàn toàn rõ nét.

Thế giới quan của riêng tôi thì có nền tảng trong triết học và giáo pháp Phật giáo, được hình thành trong môi trường tri thức của Ấn Độ cổ đại. Tôi đã được học hỏi về triết học Ấn Độ cổ đại ở tuổi còn bé. Các thầy giáo của tôi lúc đó là nhiếp chánh của Tây Tạng là Tadrak Rinpoche và Ling Rinpoche[1]. Ngài Tadrak Rinpoche là người cao niên, rất được kính trọng và tương đối nghiêm khắc. Ling Rinpoche thì trẻ hơn nhiều;

ngài luôn luôn dịu ngọt, nói năng nhỏ nhẹ, và học sâu hiểu rộng, nhưng không phải là một người lắm lời (ít nhất khi tôi còn là đứa trẻ). Tôi còn nhớ mình rất kinh hãi mỗi khi có mặt của cả hai người. Tôi có nhiều người trợ giúp về triết lý để bàn luận về những điều được dạy dỗ. Trong đó có Trijang Rinpoche[2] và đại sư học giả nổi tiếng Ngodrup Tsoknyi. Khi ngài Tadrak Rinpoche mất, Ling Rinpoche trở thành người thái sư[3] bậc cao và Trijang Pinpoche được thăng cấp thành thái sư.

Hai người này vẫn còn là thái sư cho đến khi hoàn tất chương trình học vấn chính thức, và tôi tiếp tục nhận được nhiều di sản Phật giáo Tây Tạng của nhiều dòng truyền thừa khác nhau từ hai ngài. Họ là những người bạn thân nhưng lại có các cá tính rất khác nhau. Ling Rinpoche là một người rắn chắc với đầu trọc láng bóng, và mỗi khi ông cười thì toàn thân cũng rung theo. Ông có vóc dáng to lớn nhưng đôi mắt nhỏ. Trijang Rinpoche là người cao gầy với có dáng khoan thai và thanh lịch với mũi cao nhọn so với người Tây Tạng. Ông ta rất hoà nhã và chất giọng sâu lắng, đặc biệt nhiều nhạc tính khi ông ấy tụng kinh. Ling Rinpoche là một triết gia sâu sắc với một tâm thức luận lý[4] nhạy bén và là một biệt tài hùng biện với trí nhớ truyệt vời. Trijang Rinpoche là một trong những nhà thơ vỹ đại với một khả năng chiết trung[5] thành thạo về nghệ thuật và văn chương thời bấy giờ. Nói về khí chất và các năng khiếu của tôi thì tôi cho rằng mình gần gũi với Ling Rinpoche hơn bất kỳ người thái sư nào. Có lẽ công bằng mà nói thì ngài Ling Rinpoche đã có ảnh hưởng nhiều nhất lên cuộc đời tôi.

Khi bắt đầu học nhiều giáo pháp khác nhau của các trường phái Ấn Độ cổ đại, thì tôi đã không có cách để liên hệ được chúng với bất kỳ khía cạnh nào của kinh nghiệm bản thân. Chẳng hạn, thuyết nhân quả của trường phái Sāṃkhya[6] cho rằng một hậu quả bất kỳ đều là một sự biểu thị của một phần đã có sẵn bên trong của nguyên nhân; thuyết của phái Vaiśeṣika[7] về vũ trụ đề xướng rằng sự đa dạng của một lớp các vật thể bất kỳ có tính chất tổng quát lý tưởng thường hằng là nó phụ thuộc vào tất cả các tính chất đặc thù của nó. Đã có các luận diểm hữu thần Ấn Độ chứng minh sự tồn tại của đấng Tạo Hoá và các luận điểm bài bác của Phật giáo mô tả điều ngược lại. Thêm vào đó tôi phải học nhiều điểm phức tạp khác nhau trong các giáo pháp của nhiều trường phái Phật giáo. Chúng thật quá bí hiểm để trực tiếp phù hợp cho một cậu bé mười mấy tuổi đầu mà sự ham thích của cậu ta chỉ đặt nhiều hơn vào tháo và lắp các đồng hồ, hay là các xe hơi và nghiền ngẫm các bức hình về Thế Chiến thứ II trong những tập sách và các ấn bản của tạp chí Life. Thật ra, khi Babu Tashi tháo rời và rửa chiếc máy phát điện thì tôi đứng đó để phụ giúp. Tôi thật vui thú với tiến trình này đến nổi hay quên các buổi học và ngay cả các bữa ăn. Khi những người trợ giúp triết học đến để giúp tôi ôn tập, thì tâm trí tôi lại miên man về máy phát điện và nhiều bộ phận của nó.

Nhưng mọi thứ thay đổi khi tôi lên 16. Các sự kiện chuyển biến nhanh chóng, quan đội Trung Quốc tiến đến biên giới Tây Tạng vào muà hè năm 1950, ngài nhiếp chánh, Tadrak Rinpoche cho rằng thời điểm để tôi nắm lấy toàn quyền lãnh đạo của quốc gia đã đến. Có lẽ việc đó đã đánh mất tuổi thanh xuân, trói buộc tôi bằng thực tế đen tối của cuộc khủng hoảng đang bắt đầu xảy ra, khiến tôi hiểu rõ được giá trị của việc giáo dục [ở đây là việc giảng dạy về các triết thuyết cụ thể của Phật giáo đến giai đoạn này được tác giả áp dụng vào thực tế]. Dù với nguyên nhân nào đi nữa, thì ở lứa tuổi 16 hoạt động học tập của tôi về triết học, tâm lý học, và thần học đã tạo được sự khác biệt về chất lượng. Tôi không những đã dồn hết tâm sức để đảm bảo việc học tập chúng mà còn liên hệ được nhiều khiá cạnh của sự học này với hiểu biết của chính tôi về cuộc sống và những sự kiện của thế giới bên ngoài.

Khi tôi bắt đầu đào sâu vào việc học tập, quán chiếu, và thiền định về các tư tưởng và thực hành Phật giáo, thì việc đương đầu của Tây Tạng với các lực lượng Trung Quốc trong lãnh thổ – nhằm thử dàn xếp để đem đến sự thoả thuận chính trị cho cả hai – đã trở nên ngày càng phức tạp. Cuối cùng ngay sau khi tôi kết thúc chương trình học chính thức và ngồi trước sự hiện diện của hàng ngàn tăng sĩ trong kỳ sát hạch Geshe[8] tại vùng đất thánh thành phố Lhasa đã là một sự kiện đánh dấu đỉnh cao về các nghiên cứu hàn lâm chính thức và cho đến hôm nay sự kiện này vẫn là một nguồn vui lớn của tôi, thì cuộc khủng hoảng ở trung tâm Tây Tạng buộc tôi lánh khỏi quê nhà sang Ấn Độ, để dấn thân vào cuộc đời tị nạn không quốc tịch. Điều này vẫn còn là tình trạng hợp lệ của tôi. Nhưng mất quyền công dân ở quê hương, tôi tìm thấy một ý nghĩa lớn hơn, có thể nói một cách chân thành rằng tôi là một công dân của thế giới.

Một trong những tuệ giác[9] quan trọng nhất trong Phật giáo đến từ điều được biết như là thuyết lý về tính Không[10]. Trọng tâm của giáo thuyết này là sự công nhận sấu sắc rằng có một khác biệt nền tảng giữa cách mà ta nhận thức về thế giới, bao gồm cả sự tồn của chúng ta trong đó với cách mà sự vật thực sự có; trong kinh nghiệm hằng ngày, ta có xu hướng liên hệ đến thế giới và đến chính mình như là các thực thể chiếm hữu một thực tại tự tồn, định danh được, tách biệt, và lâu bền. Chẳng hạn, nếu ta thẩm tra tri kiến của chính mình về bản ngã, sẽ thấy rằng ta có xu hướng tin vào sự có mặt của một trung tâm cốt yếu cho con người chúng ta mà nó đặc trưng cho cá nhân và nhận diện như là một cái tôi riêng biệt, độc lập với các thành tố tinh thần và thể chất đã cấu trúc nên sự tồn tại của ta. Thuyết lý về tính Không phát hiện ra điều này chẳng những là một sai sót nền tảng mà còn là cơ sở cho tham ái, bám chấp, và là sự phát triển của nhiều loại thành kiến của ta.

Theo lý thuyết về tính Không, thì một lòng tin bất kỳ vào một thực tế khách quan có nền tảng dựa trên một giả định về sự tồn tại bản chất độc lập thì sẽ không hợp lý lẽ. Tất cả sự vật và hiện tượng, bất kể là vật chất, tinh thần hay các khái niệm trườu tượng như là thời gian, đều thiếu vắng tính tồn tại khách thể độc lập. Để có được sự tồn tại độc lập, bản chất như thế sẽ phải ngụ ý rằng những sự vật và hiện tượng đó tự chúng bằng cách nào đó đầy đủ và do đó hoàn toàn tự nội tại[11]. Điều này có nghĩa là không sự vật gì có khả năng tương tác và gây được ảnh hưởng lên các hiện tượng khác. Nhưng ta biết rằng có nhân và quả[12]– Vặn chìa khoá khởi động, bu-gi đánh lửa, máy nổ, động cơ chuyển vận, xăng và nhớt được đốt. Trong một vũ trụ của các sự vật tự nội tại, tồn tại một cách tự tính[13], thì những sự kiện như thế không thể xảy ra. Tôi sẽ không thể viết lên giấy, và bạn sẽ không thể nào đọc những chữ trên trang giấy này. Nhưng bởi vì chúng ta tương tác và thay đổi lẫn nhau, nên ta phải thừa nhận rằng ta không độc lập mặc dù ta có thể cảm thấy hay trực giác rằng chúng ta có sự độc lập.

Một trong các hệ quả là quan điểm về sự tồn tại độc lập tự tính thì không phù hợp với luật nhân quả. Lý do là vì luật nhân quả bao hàm khả năng xảy đến và sự phụ thuộc, trong khi vật bất kỳ nào có đặc tính tồn tại độc lập thì bất khả biến và tự đóng kín. Mọi vật đều là sự hợp thành của các sự kiện quan hệ một cách phụ thuộc, của các hiện tượng tương tác nhau một cách liên tục với bản chất không thường hằng không có xếp đặt từ trước, mà những hiện tượng đó tự chúng cũng nằm trong các mối tương quan động thường biến. Các sự vật và hiện tượng đều là "Không" trong ý nghĩa là chúng không có bản chất bất khả biến, không có thực chất tự tính, hay không là một "thực thể" tuyệt đối có khả năng độc lập. Chân lý nền tảng này về "cách mà sự vật thật sự có" được mô tả trong kinh văn Phật giáo là "tính Không" hay śūnya trong Phạn ngữ.

Trong quan điểm thông dụng hay ngây thơ của mình, chúng ta liên hệ đến sự vật và sự kiện như là chúng có một thực tại tự tính lâu bền. Ta có xu hướng tin rằng thế giới này được làm ra từ những sự vật và hiện tượng mà mỗi phần tử trong chúng đều có một thực tại độc lập tách biệt cho tự chính nó và những sự vật thế này tương tác với sự vật khác bằng một sự độc lập và những đặc trưng tách biệt. Chúng ta tin rằng những hạt giống thực một cách tự tính sẽ sản sinh những vụ mùa thực ở một thời điểm thực và tại một nơi thật sự và các yếu tố này đều có mặt một cách tự tính. Mỗi thành viên trong mối quan hệ nhân quả này – tức là hạt giống, thời gian, nơi chốn và hậu quả – được ta gán cho trạng thái bản thể rắn chắc. Quan điểm về một thế giới như là được làm từ các đối tượng rắn chắc và các đặc tính tự tính còn được cũng cố thêm bởi ngôn ngữ của chúng ta về các chủ ngữ và vị ngữ mà được cấu trúc một mặt bởi các danh từ và tính từ mang tính chất tồn tại độc lập và mặt khác bởi các động từ chủ động. Nhưng mọi vật được cấu thành bởi các bộ phận – một người thì bao gồm cả hai: thân lẫn tâm. Xa hơn nữa, mỗi đặc trưng của các sự vật còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố, chẳng hạn như là các tên mà ta gán cho chúng, các chức năng, và các khái niệm mà ta có về chúng.

Mặc dù đuợc đặt nền móng bởi sự phiên dịch của các kinh điển cổ, mà được cho là từ đức Phật lịch sử[14], thì lý thuyết tính Không này đã được chú giải lần đầu tiên một cách hệ thống bởi luận sư vỹ đại Long Thụ[15] (thế kỉ thứ 2). Người ta biết không nhiều về đời sống cá nhân, ngài đến từ miền Nam Ấn Độ – và chỉ sau đức Phật – Ngài là hình ảnh quan trọng nhất cho việc lý giải về Phật giáo tại Ấn Độ. Các nhà sử học cho rằng ngài có công trong sự hình thành của trường phái Trung Đạo[16] của Phật giáo Đại thừa mà vẫn còn là trường phái chiếm ưu thế tại Tây Tạng cho đến ngày nay. Tác phẩm triết học gây ảnh hưởng nhiều nhất của ngài là Căn Bản Trung Quán Luận mà vẫn còn được tiếp tục học thuộc lòng, nghiên cứu và luận bàn trong các đại học Phật giáo ở Tây Tạng.

Tôi đã dành nhiều thì giờ nghiên cứu chi tiết về các vấn đề được nêu lên trong bản luận này đồng thời thảo luận với các thầy giáo và đồng môn. Vào thập niên 1960, trong suốt thập niên đầu trong cuộc đời tị nạn tại Ấn, tôi đã có thể đào bới một cách sâu sắc và rất cá nhân vào thuyết lý tính Không. Không như ngày nay, hồi đó tôi được nghĩ ngơi một cách hợp lý, chỉ với một ít hoạt động chính quy, tôi vẫn chưa bắt đầu đi chu du thế giới, một quá trình mà giờ đây chiếm phần chính thời gian của tôi. Trong suốt thập kỷ trước, tôi đã có nhiều cơ hội sử dụng hàng giờ với các thầy giáo riêng, mà cả hai đều là những chuyên gia trong các thực hành triết học và thiền định về tính Không.

Tôi cũng có được các giảng huấn từ một học giả Tây Tạng khiêm tốn nhưng tài ba tên là Nyima Gyalsen[17]. Một cách trìu mến được biết đến đưới tên Gen Nyima, ngài là một trong những người hiếm hoi với tài biểu thị một cách mạch lạc các tuệ giác thâm sâu bằng những thuật ngữ mà hầu như có thể truy cập tới được. Ông ấy hơi hói và đeo một đôi kính mát tròn và to. Mắt phải của ngài bị chứng co giật khiến phải nháy thường xuyên. Nhưng năng lực tập trung tinh thần đặc biệt khi theo dõi một chuỗi dài các ý tưởng và đào bới sâu vào một điểm của ông thì thật đáng kinh ngạc – quả là một huyền thoại. Ông ta có thể trở nên rành mạch hoàn toàn với những gì xảy ra ở xung quanh một khi mà ông ở một trong các trạng thái này. Thật sự thuyết lý tính Không đã là chuyên môn đặc biệt của Gen Nyima khiến những giờ trao đổi của tôi với ngài tất cả trở nên đích đáng hơn.

Một trong những điều đặc biệt và sôi nổi nhất về vật lý hiện đại là cách mà thế giới vi mô của cơ học lượng tử thách thức hiểu biết chung của chúng ta. Những dữ kiện về lưỡng tính sóng-hạt của ánh sáng và về nguyên lý bất định[18] phát biểu rằng ta không thể nào xác định được cùng lúc trạng thái chuyển động và vị trí của nó, và về khái niệm của sự chồng chập lượng tử[19]; tất cả nói lên một cách hiểu hoàn toàn khác về thế giới so với vật lý cổ điển cho rằng các vật thể hoạt động trong một cách thức xác lập và dự đoán được. Chẳng hạn, trong thí dụ nổi tiếng về chú mèo của Schrödinger[20], trong đó, chú mèo được đặt trong một hộp có nguồn phóng xạ mà có đến 50% cơ hội để thoát ra độc tố gây tử vong, ta buộc phải chấp nhận rằng, cho đến khi nắp hộp được mở ra, thì chú mèo vừa sống và vừa chết, điều này dường như không tuân theo luật mâu thuẫn.

Đối với một Phật tử Đại thừa được giàn trải tư tưởng của thánh giả Long Thụ, có một sự cộng hưởng không thể sai lầm giữa khái niệm tính Không và vật lý mới. Nếu trong cấp độ lượng tử, vật chất tỏ ra ít rắn chắc và khó xác định hơn như là sự trình hiện của chúng, thì dường như, đối với tôi, khoa học đang tiến gần hơn đến với các tuệ giác Phật giáo về tính Không và sự tương thuộc lẫn nhau. Ở một hội nghị tại New Delhi, tôi đã có lần được nghe Raja Ramanan[21], một nhà vật lý được sánh như là Sakharov[22] của Ấn Độ, đã mô tả sự song hành giữa thuyết lý tính Không của Long Thụ với cơ học lượng tử. Qua nhiều năm, sau khi được tiếp chuyện với nhiều nhà khoa học bạn bè, tôi cho rằng những phát kiến to lớn kể từ thời Copernicus[23] đã đem lại một thấu hiểu rõ ràng là thực tại thì không giống như trình hiện của nó trước mắt ta. Khi đặt thế giới dưới một góc nhìn nghiêm túc của việc khảo sát – tức là dùng phương pháp và thí nghiệm khoa học hay phân tích luận lý về tính Không hoặc phương pháp phân tích thiền định (thiền quán -ND) – người ta có thể thấy được các sự vật ở mức vi tế hơn, và ngay cả trong một số trường hợp thấy được mâu thuẫn với các giả định của quan niệm thông thường về thế giới của chúng ta.

Ngoài việc miêu tả không đúng thực tại, người ta có thể hỏi thêm gì về các sai sót khi tin vào việc tồn tại độc lập tự tính của sự vật? Đối với ngài Long Thụ, niềm tin này có những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng. Long Thụ luận rằng niềm tin vào sự tồn tại tự tính chứa đựng cơ sở chức năng sai lạc có tính tự ngã trường cửu trong các tiếp giao của ta với thế giới và với những chúng sinh đồng loại. Khi đối xử với các đặc tính tự tính hấp dẫn, thì ta phản ứng đến các đối tượng và sự vật với sự luyến ái lừa dối, trong khi đó, lúc đối với các đặc tính tự tính khó ưa thì ta lại phản ứng ghét bỏ. Nói cách khác, Long Thụ biện minh rằng việc bám chấp vào tính tồn tại độc lập của sự vật dẫn tới phiền não, mà theo đó, sẽ khởi tiếp một chuỗi các hành vi phản ứng hủy hoại và đau khổ. Trong phân tích sau cùng, theo Long Thụ, thuyết lý về tính Không không phải chỉ là vấn đề hiểu biết khái niệm về thực tại. Nó dính líu chặt chẽ với đạo đức và tâm lý một cách sâu sắc.

Có lần tôi hỏi người bằng hữu, nhà vật lý David Bohm, câu hỏi rằng trong quan điểm khoa học hiện đại, ngoài vấn đề miêu tả sai lạc, thì điều điều gì sai trái khi tin vào sự tồn tại độc lập của các sự vật? Câu trả lời của ông ấy rất đích đáng. Ông ta bảo rằng nếu ta kiểm điểm lại những hệ tư tưởng vốn có xu hướng phân chia nhân loại như là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa quốc gia quá khích, và tầng lớp đấu tranh chủ nghĩa Mác, thì một trong những nhân tố chính yếu từ trong cội nguồn của các chủ trương đó là chiều hướng nhận thức các sự vật bị chia biệt và rời rạc một cách tự tính. Từ nhận thức sai lầm này, kích khởi lên lòng tin rằng mỗi thành phần trong trong các sự phân chia đó là độc lập một cách bản chất và tự tồn. Trả lời của ngài Bohm, người có nhân thân trong hoạt động về vật lý lượng tử, đã lập lại một mối quan tâm đạo đức về việc chứa chấp các tín điều mà ngài Long Thụ đã lo ngại nêu ra trước đó gần 2000 năm. Nói một cách nghiêm túc, cho là khoa học không có trách nhiệm với những vấn đề các đạo đức và các phán xét đánh giá; sự thật là khoa học, một nổ lực của nhân loại, vẫn phải liên hệ tới câu hỏi cơ bản về sự hoàn thiện của con người. Vậy nên, trong một ý nghĩa nào đó thì không có gì đáng ngạc nhiên về câu trả lời của Bohm. Tôi ước có thêm nhiều khoa học gia đồng ý với suy nghĩ của ông ấy về mối liên hệ lẫn nhau giữa khoa học với các khuôn khổ nhận thức và tính nhân bản.

Theo tôi biết thì khoa học hiện đại đã đối mặt với một cuộc khủng hoảng trong đầu thế kỉ thứ 20. Công trình vỹ đại về vật lý cổ điển được dựng lên bởi Isaac Newton, James Maxwell[24] và nhiều nhà khoa học khác đã cung ứng các giải thích dường như rất hiệu quả về những thực tại được nhận thấy về thế giới và các giải thích đó khế hợp với các ý tưởng thông thường. Công trình đó đã bị làm suy yếu bởi việc phát hiện ra thuyết tương đối và bởi ứng hoạt kỳ lạ của vật chất cấp mức độ nhỏ hơn nguyên tử [hạ nguyên tử], mà đã được tìm hiểu trong vật lý lượng tử. Như Carl von Weizsäcker có lần giải thích với tôi rằng vật lý cổ điển chấp nhận một thế giới quan cơ giới trong đó các luật vật lý phổ dụng chắc chắn bao gồm trọng lực và các định luật cơ học, đã xác lập một cách hiệu quả mô hình của các hành vi tự nhiên. Trong mô hình này, có bốn thực tại khách quan – là các vật thể, các lực, không gian và thời gian – và luôn luôn có một sự khác nhau rõ ràng giữa các đối tượng được biết và chủ thể là người nhận biết. Nhưng trong thuyết tương đối và cơ học lượng tử, theo von Weizsäcker, thì ta phải từ bỏ vấn đề có tính nguyên lý là sự biệt lập giữa chủ thể và đối tượng, và từ bỏ tất cả những chắc chắn của ta về khả năng khách quan của các dữ kiện thực nghiệm. Dẫu sao – và đây là điều mà von Weizsäcker xác quyết: những khái niệm duy nhất mà ta có cho việc mô tả cơ lượng tử và các thí nghiệm để kiểm nhận bức tranh mới của nó [cơ lương tử] về thực tại lại là những thứ thuộc về vật lý cổ điển [là bộ môn] vốn đã bị lượng tử lý thuyết bác bỏ. Mặc dù với các vấn đề này, von Weizsäcker luận rằng chúng ta cần liên tục tìm kiếm về sự gắn kết nhau trong tự nhiên và về sự hiểu biết của thực tại, của khoa học, và của chỗ đứng của nhân loại mà chúng đúng đắn hơn theo kiến thức khoa học mới nhất.

Dưới ánh sáng của các phát kiến khoa học, tôi cảm thấy rằng Phật giáo cũng phải quyết tâm thích ứng với vật lý cơ bản về các lý thuyết "nguyên tử" của nó, bất kể thẩm quyền được xác lập từ lâu của chúng trong truyền thống Phật giáo. Chẳng hạn, học thuyết cổ sơ Phật giáo về "nguyên tử" chưa bao giờ trải qua một sự tu chỉnh lớn nào, đã đề xuất rằng vật chất thì được cấu trúc bởi một tập hợp của bộ tám "nguyên tử" căn bản: đất, nước, lửa, và gió; tạo thành tứ đại và sắc, hương, vị, và xúc[25] được gọi là bốn dẫn xuất căn bản. Đất có tính rắn đặc, nước có tính kết dính uyển chuyển, lửa có tính năng lực, và gió có tính năng động. Một "nguyên tử" thấy được như là tổ hợp của tám yếu tố căn bản, và đựa trên cơ sở của sự kết hợp[26] của các "nguyên tử" thành phần, mà sự tồn tại của các đối thể trong thế giới vi mô được giải thích. Theo một trường phái Phật giáo cổ nhất là Tì-bà-sa Luận[27] thì những "nguyên tử" căn bản riêng lẽ là các cấu trúc nhỏ nhất của vật chất, không phân chia được (bất khả phân) và do đó không có các bộ phận. Khi các "nguyên tử" như thế kết hợp để hình thành các đối thể, thì những người theo phái Tì-bà-sa khẳng định rằng các "nguyên tử" riêng lẽ không hề chạm nhau. Sự hỗ trợ của thành tố gió và các lực lượng khác trong tự nhiên giúp cho các thành tố cấu trúc được kết hợp thành một hệ thống hơn là việc sụp đổ vào bên trong hay giản nở vô hạn định.

Sẽ bằng thừa nếu nói rằng những lý thuyết như vậy phải được phát triển thông qua sự tranh luận kịch liệt với các trường phái triết học Ấn khác, đặc biệt là các hệ thống lập luận của Nyaya[28] và Vaisheshika. Nếu kiểm nghiệm lại các văn liệu triết học Ấn từ thời cổ, thì người ta sẽ cảm nhận được một nền văn hóa giàu tính tranh luận, bàn bạc, và đối thoại giữa những người theo đuổi các trường phái và hệ thống khác nhau.

Các trường phái cổ Ấn này – như là Phật giáo, Nyaya, Vaisheshika, Mimamsa, Samkhya, và Aidvaidavadanta[29] – cùng chia sẻ các lợi lạc và phương pháp của sự phân tích. Loại tranh luận kịch liệt này giữa các trường phái tư tưởng đã là nhân tố chính trong sự phát triển của tri kiến và tinh lọc các ý tưởng triết học, từ thời Phật giáo cổ Ấn đến trung cổ và thời Tây Tạng hiện đại.

Những nguồn giáo pháp cổ xưa nhất được biết đến về lý thuyết "nguyên tử" của phái Tì-bà-sa có thể từ tác phẩm A-tỳ-đàm Tâm Luận của ngài Dharmaśrī và tác phẩm được tôn vinh Đại-tì-bà-sa luận[30]. Tác phẩm đầu được các nhà nghiên cứu hiện nay cho là có mặt vào khoảng thế kỉ thứ 2 trước Tây lịch và thế kỉ thứ 1. Mặc dù nó chưa bao giờ được dịch sang Tạng ngữ, tôi đã được cho biết rằng bản Hán ngữ đã được tạo ra vào thế kỉ thứ 3. Bài luận của ngài Pháp Thắng thể hiện một nổ lực tinh tế nhằm hệ thống hoá các quan điểm tinh yếu của triết lý Phật giáo trước đó, khá nhiều ý tưởng cơ sở của nó chắc chắn đã có mặt một thời gian trước khi bài luận đó được soạn thảo. Ngược lại, tập Đại-tì-bà-sa luận là một bài thuyết giảng được soạn thảo vào khoảng giữa thế kỉ thứ nhất và thứ ba sau Tây lịch thiết lập các giáo lý của một trường phái Phật giáo đặc biệt như là giáo pháp chính thống và trả lời cho nhiều phản bác khác nhau chống lại các giáo lý này bằng cách đưa ra một nền tảng lập luận triết lý. Mặc dù các luận điểm của Đại-tì-bà-sa luận rất quen thuộc với Phật giáo Tây Tạng, thì tác phẩm này tự nó cũng chưa hề thực sự được chuyển dịch đầy đủ sang Tạng ngữ.

Trên cơ sở của hai luận văn này, đặc biệt là bản Đại-tì-bà-sa, thì Thế Thân, một đại sư triết học nhiều uy tín người Ấn, đã soạn tác phẩm A-tì-đàm-câu-xá Luận trong thế kỉ thứ tư[31]. Tác phẩm này tổng kết các điểm tinh yếu của Đại-tì-bà-sa luận đưa chúng ra để phân tích xa hơn. Nó đã trở thành việc làm chuẩn mực cho ngành tâm lý học và triết học.

Phật giáo cổ sơ tại Tây Tạng; thí dụ, khi còn là một tu sĩ trẻ, tôi phải học thuộc lòng chính văn của bài luận này.

Như là sự hợp thành của các "nguyên tử" và mối quan hệ tương hỗ giữa các "nguyên tử" với những đặc tính cấu trúc của chúng, Phật giáo cổ sơ đã sản sinh ra tất cả các loại lý thuyết suy diễn. Điểm lý thú là A-tì-đàm-câu-xá thậm chí còn bàn thảo về kích thước vật lý của các "nguyên tử" khác nhau. Hạt tử tuyệt đối nhỏ nhất được tả là khoảng 1 phần 2.400 lần cở của một "nguyên tử" của con thỏ, theo một ý nghĩa nào đó. Tôi không biết bằng cách nào ngài Thế Thân tính ra được như vậy!

Trong khi chấp nhận thuyết nguyên tử, các trường phái Phật giáo khác đã đặt nghi vấn về quan điểm các nguyên tử không chia được. Mốt số còn truy cứu đến điều cho rằng bốn yếu tố sắc, hương, vị, và xúc như là một cơ sở cấu thành vật chất. Chẳng hạn, Thế Thân đã nổi tiếng vì việc ngài tự mình chỉ trích quan điểm về những nguyên tử thực tại khách quan không chia được. Ngài phản bác rằng, nếu các nguyên tử độc lập bất khả phân tồn tại, thì không thể nào có được sự hình thành của các vật thể trong thế giới thường ngày. Để các vật thể như thế được hình thành, phải có một cách giải thích phương thức mà các nguyên tử đơn giản liên kết nhau trong các hệ thống phức hợp.

Nếu một sự kết hợp như thế xảy ra, như là nó phải có, thì hãy mường tượng một nguyên tử đơn lẽ được vây quanh bởi 6 nguyên tử khác, mỗi nguyên tử phân bố theo các hướng chính và một phía trên, một phía dưới. Sau đó, ta có thể đặt nghi vấn là: Phải chăng cùng một bộ phận của nguyên tử ở trung tâm giao tiếp với nguyên tử ở phía đông và đồng thời giao tiếp với nguyên tử ở phía bắc? Nếu không thì nguyên tử ở trung tâm phải có nhiều hơn 1 bộ phận và do đó ít nhất trên nguyên tắc phải chia cắt được. Nguyên tử ở giữa phải có một bộ phận giao tiếp nguyên tử ở phía đông nhưng không giao tiếp với nguyên tử ở phía bắc. Nếu ngược lại, phần phía đông này không giao tiếp với nguyên tử ở phía bắc, thì cũng không có gì ngăn cản phần đó giao tiếp với các nguyên tử trong tất cả các hướng khác. Trong trường hợp như vậy, Thế Thân tranh luận rằng, các vị trí không gian của tất cả bảy nguyên tử – một ở giữa và 6 xung quanh – sẽ là một, và do đó tất cả sẽ sụp đổ vào trong một nguyên tử đơn nhất. Như là kết quả của thí nghiệm suy tưởng này, ngài Thế Thân phản bác rằng không thể nào có các vật thể của thế giới vi mô trong ý nghĩa của sự kết hợp vật chất đơn thuần như là các nguyên tử không phân chia được.

Một cách cá nhân thì tôi không thể nào hiểu ý nghĩ cho rằng các phẩm chất như hương, vị, và xúc là cơ sở cấu thành của các vật thể vật chất. Tôi có thể thấy được cách thức mà người ta phát triển một lý thuyết nguyên tử liên kết của vật chất trên cơ sở của bốn thành tố như là các cấu trúc. Trong mọi trường hợp thì tôi cảm thấy rằng phương diện tư tưởng Phật giáo này, chủ yếu là một dạng của vật lý sơ đẳng, suy diễn, giờ đây phải được điều chỉnh dưới ánh sáng của vật lý hiện đại mà đã được chi tiết hóa và được kiểm tra việc hiểu biết về cơ sở các cấu trúc của vật chất một cách có thử nghiệm trong khuôn khổ của các hạt vật lý như là các hạt điện tử quay quanh một hạt nhân với dương điện tử và trung hoà tử[32]. Khi người ta nghe nói về các mô tả về các hạt hạ nguyên tử, như là quark và lepton[33] trong vật lý hiện đại, thì đó là bằng chứng rằng các lý truyết nguyên tử Phật giáo cổ xưa và nhận thức của chúng về các hạt vật chất nhỏ nhất bất khả phân quá lắm chỉ là những mô hình thô thiển. Mặc dù vậy, điểm nhấn mạnh cơ bản của các luận sư Phật giáo cho là ngay cả với những cấu trúc tinh vi nhất của vật chất đều phải được hiểu dưới dạng của các thành phần kết hợp có vẻ đã đi đúng đường.

Một trong những động lực cơ bản đứng sau việc truy cứu về triết lý và khoa học lên các cấu trúc cơ sở của vật chất là để tìm ra viên gạch xây dựng không thể rút nhỏ hơn được. Điều này không chỉ đúng trong triết học cổ Ấn độ và vật lý hiện đại mà cả với các nhà khoa học cổ Hy Lạp, chẳng hạn như các lý thuyết gia chủ trương "nguyên tử". Một cách chính xác, thì đây là cuộc truy lùng vào bản chất tối hậu của thực tại, dù rằng còn tùy theo cách định nghĩa. Tư tưởng Phật giáo luận đàm trên các nền tảng lô-gíc rằng cuộc truy tìm này là bị lạc lối. Đã có một thời, khoa học tin vào việc tìm ra nguyên tử là đã tìm thấy được cấu trúc tối hậu của vật chất; nhưng các thí nghiệm vật lý thế kỉ thứ 20 đã phân chia được nguyên tử thành các hạt vi tế hơn. Mặc dù ít ra có một quan điểm trong cơ học lượng tử cho rằng ta sẽ không bao giờ tìm được hạt không thể rút nhỏ hơn thực sự một cách khách quan, thì nhiều nhà khoa học vẫn sống trong niềm hy vọng về sự phát hiện của bộ môn này.

Trong mùa hè 1998, Tôi có viếng thăm phòng thí nghiệm của nhà vật lý người Áo Anton Zeilinger tại đại học Innsbruck[34]. Anton hướng dẫn tôi dùng thiết bị cho phép người ta quan sát một nguyên tử riêng lẽ được ion hóa. Tôi đã cố thử hết khả năng nhưng vẫn không thấy nổi nó. Có lẽ duyên nghiệp của tôi không đủ chín mùi để được hưởng hình ảnh tuyệt vời này. Tôi gặp Anton lần đầu tiên khi mà ông ta tham dự hội nghị Life and Mind[35] tại Dharamsala vào năm 1997. Bằng một cách nào đó thì trái ngược với David Bohm, ông ta to lớn với râu quai nón và mang kiếng, có tài hài hước, và tiếng cười rung cả toàn thân. Là một nhà vật lý thực nghiệm, ông ta cởi mở một cách đáng ghi nhận đối với mọi cải cách của các đề tài lý thuyết dưới ánh sáng của các kết quả thực nghiệm mới nhất. Ông ta hứng thú đối thoại với Phật giáo trong việc so sánh các lý thuyết của tri thức – vật lý lượng tử và Phật giáo – bởi vì ông ta thấy rằng cả hai đều loại bỏ bất kỳ ý niệm nào về một thực tại khách quan độc lập.

Cũng trong lần đó, tôi đã gặp nhà vật lý Hoa kỳ Athur Zajonc[36]; một người nói năng nhỏ nhẹ và có cặp mắt sắc xảo, đặc biệt khi ông ta chăm chú mạnh vào một điểm; là một giáo viên thiên tài với khả năng làm cho ngay cả một đề tài phức tạp nhất trở nên rõ ràng. Trong vai trò giới thiệu, Athur tổng kết và tóm tắt các bàn thảo một cách thật súc tích khiến chúng trở nên rất hữu dụng cho tôi.

Nhiều năm trước đó, tôi đã có may mắn được đến thăm học viện Niels Bohr[37] ở Copenhagen [thủ đô Đan Mạch] để tham dự một cuộc đàm thoại không chính thức. Vài ngày trước chuyến viếng thăm, trong khi đang ở tạm tại Luân-đôn, tôi có bữa ăn trưa với David Bohm và vợ ông ta tại khách sạn mà tôi trú. Do có thông báo với ông ta rằng tôi sẽ tham dự cuộc đối thoại về triết học vật lý và Phật giáo tại học viện Bohr, nên Bohm đã nhiệt tình đem đến cho tôi hai trang tổng kết của chính ngài Bohr về các quan điểm triết học đối với bản chất của thực tại. Thật là tuyệt vời khi nghe Bohm kể về mô hình hành tinh Bohr của nguyên tử và mô hình nguyên tử của Rutherford[38] như là một hạt nhân với các điện tử xoay quanh, cả hai đều nhắm phản ứng lại mô hình "plum pudding" [giống như chè thạch - mận].

Mô hình plum pudding đã hình thành từ cuối thế kỉ 19 sau khi J.J. Thomson[39] phát hiện các điện tử tích điện âm; và mô hình đó cho rằng lượng điện tích dương cân bằng với lượng điện tích âm của các điện tử đã trải đều trong nguyên tử như là chè thạch, trong đó các điện tử là những trái mận. Trong đầu thế kỉ 20, Ernest Rutherford phát hiện ra rằng khi các hạt alpha tích điện dương được bắn vào một lá vàng mỏng, thì hầu hết xuyên qua ngoại trừ một số bị dội lại. Ông ta kết luận một cách đúng đắn là các phần tích điện dương của vàng không thể trải đều trong những nguyên tử như chè thạch mà phải tập trung bên trong trung tâm của chúng: khi hạt alpha va chạm với trung tâm của nguyên tử vàng, phần tích điện dương đủ mạnh để đẩy ngược nó trở lại. Từ đây, Rutherford hệ thống hóa thành mô hình "hệ thống mặt trời" của nguyên tử, với hạt nhân tích điện dương và được xoay quanh bởi các điện tử tích điện âm. Sau đó, Niels Bohr đã điều chỉnh mô hìnhcủa Rutherford bằng mô hình hành tinh của nguyên tử mà điều đó trong nhiều chiều hướng là cha đẻ của cơ học lượng tử.

Trong cuộc đàm thoại, Bohm cũng cho tôi một cái nhìn lướt qua về cuộc tranh luận lâu dài giữa Bohr và Einstein đối với việc diễn giải về vật lý lượng tử. Cốt yếu cuả cuộc bàn cãi xoay quanh việc Einstein phủ nhận giá trị của nguyên lý bất định; trung tâm của tranh luận là vấn đề liệu thực tại ở cấp nền tảng có là không xác định, là không thể dự đoán, và là xác suất hay không. Einstein đã chống lại mạnh mẽ với khả năng này, như là sự phản ánh mệnh đề cảm thán nổi tiếng của ông: "Thượng Đế không chơi trò súc sắc!" Tất cả điều này gợi cho tôi nhớ về lịch sử Phật giáo truyền thống của tôi, trong đó tranh luận giữ vai trò trọng yếu trong sự hình thành và tinh lọc nhiều ý tưởng triết học.

Không như các luận sư Phật giáo thời cổ, các khoa học gia có thể nâng cao năng lực của đôi mắt nhìn một cách to tát thông qua các trang cụ khoa học như các kính thiên văn khổng lồ, thí dụ như kính thiên văn Hubble[40], hay thông qua các kính hiển vi điện tử. Kết quả là một tri thức thực nghiệm về các đối tượng vất chất vượt xa ngay cả sự tưởng tượng trong thời cổ. Trong cái nhìn về khả năng này, trong nhiều dịp, tôi đã nhấn mạnh cho việc nhập môn vật lý cơ sở vào các ngành học của các trường cao đẳng Phật giáo Tây Tạng. Tôi cho rằng chúng tôi, thật ra, sẽ không mở ra bộ môn mới mà đúng hơn chúng tôi sẽ cập nhật chương trình học vốn có. Tôi cảm thấy vui sướng là giờ đây các học viện cao đẳng Phật giáo đã tiến hành thường xuyên các hội thảo về vật lý hiện đại. Những hội thảo này được thực hiện bởi các giáo sư vật lý và một số sinh viên tốt nghiệp của họ tại các đại học Tây Phương. Tôi hy vọng rằng sự khởi động này sẽ cuối cùng đạt kết quả nhập môn đầy đủ của vật lý hiện đại vào trong chương trình triết học bắt buộc trong các tự viện Tây Tạng.

Chú thích[sửa]

  1. Tadrak Rinpoche Ngawang Sungrab (wyl. stag brag rin po che ngag dbang gsung rab) (1875 - ??) là người thái sư của đức Dalai Lama. Ông làm nhiếp chánh tại Tây Tạng năm 1941, rời chức vụ năm 1950.
    Kyabje Ling Rinpoche (1903-1983) là người thái sư thứ nhì cho đức Dalai Lama 14. Ngài là người giữ ngôi truyền thừa thứ 97 kể từ sơ tổ Tsongkhapa (Tông-khách-ba) của phái Gelug (Cụ Duyên) Phật giáo Tây Tạng. “HH Ling Rinpoche's Biography”. Lama Yeshe Wisdom Archive. Truy cập 17/02/2009.<http://www.lamayeshe.com/otherteachers/ling/bio.shtml>
    Chữ Rinpoche trong Tạng ngữ có nghĩa là "một người cao quý". Đây là một danh hiệu thường chỉ dành cho những lạt-ma (đại sư) tái sinh và những người được công nhận bởi một quyền chính chức trong một dòng truyền thừa Phật giáo TâyTạng.)
  2. Kyabje Trjang Rinpoche (1900-1981) làm một vị lạt-ma của dòng Gelug người từng giữ nhiều vai trò quan trọng trong trường phái Gelug và là người chịu trách nhiệm soạn thảo pháp môn tiệm tu Lamrim cổ điển "Giải Thoát trong Lòng Bàn Tay". “Trijang Rinpoche”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Trijang_Rinpoche>
  3. Thái sư: là một chức vụ thầy giáo riêng của vua hay quốc trưởng. Đức Dalai Lama lúc bấy giờ được tấn phong lãnh đạo nước Tây Tạng (ngài lên ngai năm 1940)
  4. Nhiều sách dịch chữ "logic" theo lối phiên âm là lô-gíc. Ở đây nghĩa Việt hóa có thể dịch là luận lý, lập luận, (hay hợp lý nếu là tính từ). Bộ môn toán học nghiên cứu các lập luận hợp lý gọi là luận lý học hay lô-gíc học.
  5. Chiết trung là một quan điểm nhằm pha trộn nhiều khía cạnh tích cực khác nhau của các triết lý.
  6. Samkhya (sa. Sāṃkhya) Ra đời vào khoảng thế kỉ thứ 3 do công của triết gia Maharishi Kapila. Có tác giả dịch là phái số luận có chủ trương hữu thần và "tâm (Purusha ) vật (Prakriti ) nhị nguyên” tức là công nhận có một bản ngã độc lập với thế giới vật chất và chúng thường hằng; tuy nhiên, họ cũng chấp nhận ý tưởng về luật nhân quả. “Samkhya”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Samkhya>
    Xin nhắc thêm triết học cổ Ấn độ ngoài Phật giáo ra, còn có sáu nguồn triết lý chính là: Upanishad, Vedanta, Mimansa, Nyaya, Vaisesika và Samkhya. Xem thêm <http://doanket.multiply.com/journal/item/687> phần 5.3 Các triết thuyết Vệ Đà chính thống.
  7. Vaisheshika (sa. Vaiśeṣika) Có tác giả dịch là phái Thắng Luận, xuất phát từ triết gia Kaṇāda vào thế kỉ thứ 6 trước công nguyên. Là một trong 6 trường phái triết học quan trọng cổ Ấn Độ ngoài Phật giáo. Phái này theo chủ trương nguyên tử cho rằng tất cả các vật thể trong vũ trụ vật lý đều có thể quy giảm về một số hữu hạn các nguyên tử. Ngoài ra, theo phái này thì mọi vật tồn tại đều có thể nhận biệt được và là đối tượng của nhận thức. Tất cả các đối tượng của nhận thức đều có thể chia thành 6 lớp: dravya (thực chất), guṇa (phẩm chất), karma (hành vi), sāmānya (tính tổng quát), viśeṣa (tính đặc thù) “Vaisheshika”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009<http://en.wikipedia.org/wiki/Vaisheshika>
  8. Geshe (Tib. dge shes, "virtuous friend"; cognate of Skt. kalyanamitra) là học vị của Phật giáo Tây Tạng dành cho các tăng sĩ. Học vị này được nhấn mạnh chủ yếu trong truyền thừa Gelug. Học vị này được nhiều tác giả Tây Phương cho là tương đương với học vị tiến sĩ. Chương trình đào tạo sẽ bao gồm 6 bộ môn chính trải rộng hầu hết các thuyết lý cơ bản của Phật học: Trí huệ Ba-la-mật (Prajraparamita), Trung Quán (Madhyamika), Nhân Minh Luận (Pramana), Giới Luật (Vinaya) và Vi Diệu Pháp luận (Abhidharma). Chương trình học có thể kéo dài nhiều trong thập niên. Sau khi hoàn tất thí sinh sẽ phải đợi đến kỳ khảo hạch geshe. Trong thời gian chờ đợi thí sinh sẽ có thể tiếp tục rèn luyện về khả năng biện luận Phật giáo. “Geshe”. Central Tibet Administrator. Truy cập 2009<http://www.tibet.com/buddhism/geshe.html>.
  9. Tuệ giác: là trực giác đặc biệt thấu suốt. Trong Phật giáo thì tuệ có thể có được thông qua luyện tập thiền định đúng đắn.
  10. Tính Không (sa. śūnya, tính từ, sa. śūnyatā, danh từ, bo. stong pa nyid) có nghĩa là thiếu vắng. Đây là khái niệm tối quan trọng và rất trừu tượng trong Phật giáo. Tính Không đã được nhắc đến trong các kinh điển thời đạo Phật nguyên thủy cho rằng mọi sự vật là tạm hợp trống rỗng vô thường và vô ngã. Sau này tính Không đuợc khai triển rộng trong các bộ kinh Bát Nhã của đại thừa và được Thánh giả Long Thọ và các đệ tử nhấn mạnh diễn giải chi tiết hơn làm nền tảng cho giáo thuyết Trung Quán. Tuỳ theo truyền thống tu học, cách hiểu về tính Không có thể sai biệt ít nhiều cũng như phương pháp để tu chứng và thể nghiệm tính Không này cũng rất khác nhau. Ở đây có thể hiểu tính Không là đặc tính phổ quát mà mọi sự vật kể cả tâm thức hay vật chất đều thiếu vắng đi một bản chất (hay đặc tính) tự tồn, vĩnh cữu. Vạn vật đều tồn tại một cách phụ thuộc vào nhân duyên và đều tồn tại chỉ do danh định. Xin xem thêm định nghiã và giảng giải sâu hơn về tính Không trong quyển "Tứ Diệu Đế" của cùng tác giả.
  11. Từ chữ "entirely self-contained": Có nghĩa là sự vật hay hiện tượng mà tất cả các tương tác và hoạt động của nó sẽ tự đóng khung bên trong chính bản thân nó và không chuyển bất kỳ thông tin nào ra ngoài, tự tồn tại mà không tương tác với bên ngoài. Do đó, ngược lại, tất cả các sư vật bên ngoài không thể nào tương tác hay trao đổi thông tin với hiện tượng hay sự như thế và do đó không thể phát hiện được và cũng không thể bị/chịu các hiện tượng và vật thể này tác động ngược lại. (đọc thêm chi tiết bài giảng Anh và Tạng ngữ "Praise of Depended Origination" (Xưng Tụng Duyên Khởi) tại San Francisco Hoa Kỳ tháng 4 năm 2007 của đức Dalai Lama , tải về máy tại trang <http://www.dalailamabay2007.com/>). Dalai Lama in the Bay area 2007. Truy cập 15/01/2010)
    Một số điểm có thể liên hệ đến đề tài gần tương tự khi xem xét vấn đề nóng bỏng của vật lý thiên văn hiện đại là "liệu thông tin từ bên trong hố đen sẽ có thể phát hiện hay thoát ra để có thể thu được bằng các đo đạc vật lý hay không?"
  12. Nhân (nguyên nhân) và quả (hậu quả) là hai phạm trù thành phần quan trọng trong thuyết duyên khởi Phật giáo, một chủ thyết được xem là định luật bao trùm của toàn thể thế giới hiện tượng và là nền tảng của triết lý Phật giáo. Một cách ngắn gọn thì thuyết này cho rằng mọi sự kiện và hiện tượng (hậu quả) khởi lên (hình thành) đều là do sự tổng hợp của các nguyên nhân và các điều kiện thích hợp (duyên) với hậu quả đó. Xem thêm "tứ Diệu Đế" của cùng tác giả và "Pháp Duyên Khởi". BuddhaSasana. Mahàsi Sayadaw. Thích Minh Huệ dịch.<http://buddhanet.net/budsas/uni/u-phapduyenkhoi/duyenkhoi-00.htm>
  13. Thuật ngữ Tự tính được dịch từ các chữ có gốc inherent hay intrinsic -- tức là bản chất thực hay bẩm tính cốt lõi sẵn có từ bên trong.
  14. Đây ý chỉ đức Phật Thích-ca Mâu-ni: Siddhārtha Gautama (Sa, Siddhattha Gotama) còn gọi là Phật Cồ-đàm tức là người đầu tiên giác ngộ và truyền bá tư tưởng Phật giáo cho nhân loại. Nhiều người cho rằng Ngài sinh ra vào 563 và mất 483 trước Tây lịch. “Gautama_Buddha”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009<http://en.wikipedia.org/wiki/Gautama_Buddha>.
  15. Long Thụ (sa. nāgārjuna, bo. klu sgrub), dịch âm là Na-già-át-thụ-na, thế kỷ 1-2, là một trong những luận sư vỹ đại nhất của lịch sử Phật giáo -sau đức Phật. Người ta xem sự xuất hiện của Sư là lần chuyển pháp luân thứ hai của Phật giáo (lần thứ nhất do Phật Thích-ca Mâu-ni, lần thứ ba là sự xuất hiện của giáo pháp Đát-đặc-la). Đại thừa Ấn Độ xếp Sư vào "Sáu Bảo Trang của Ấn Độ" – năm vị khác là Thánh Thiên (sa. āryadeva), Vô Trước (sa. asaṅga), Thế Thân (sa. vasubandhu), Trần-na (sa. diṅnāga, dignāga), Pháp Xứng (sa. dharmakīrti). Sư là người sáng lập Trung quán tông (sa. mādhyamika), sống trong thế kỉ thứ 1–2. Ngài viết nhiều tác phẩm trong đó quan trọng nhất là Căn Bản Trung Quán Luận và Bảo Hành Vương Chính Luận. Sư cũng được xem là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ. “Long thụ”. Wikipedia. 17/02/2009 <http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_Th%E1%BB%A5>
  16. Madhyamaka (Madhyamaka, còn gọi là Śunyavada) là một truyền thống Đại thừa Phật giáo được hệ thống hoá bởi thánh giả Long thụ theo đó quan điểm về tính Không được nhấn mạnh. Được gọi là Trung Đạo vì nó tránh được chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thường hằng về cả vật chất và tâm thức. “Madhyamaka“. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Madhyamaka>
  17. Tulku Nyima Gyaltsen Rinpoche (1942 -) tại địa phận Tromtha vùng Kham Tây Tạng. Ngài được xem là vị lạt ma tái sinh của vị đại sư vỹ đại thuộc dòng truyền thừa Sakya và Nyingma. Ngài là người lãnh dạo tối cao của nhiều tự viện ở Tây Tạng kể từ năm` 1985 và giảng dạy tại nhiều đại học Tây Tạng và Hoa Kỳ. “Tulku Nyima’s Biography”. Sakya Dokho Choling. Truy cập 14/01/2010. <http://www.sakyadokhocholing.org/Tulku_Nyima_s_Biography.html>
  18. Nguyên lý bất định do nhà vật lý người Đức là Werner Heisenberg (1901-1976 -- Nobel vật lý 1932) đề xuất trong lúc nổ lực đặt nền móng toán học cho cơ học lượng tử tại học viện Niels Bohr Copenhagen (Đan Mạch) vào năm 1925. Ở đây nên hiểu trạng thái chuyển động có nghĩa là momentum. Xem bài viết GS Trịnh Xuân Thuận "Nguyên lý bất định trong cơ học lượng tử". Vietsciences. Truy cập 17/02/2009 <http://vietsciences.free.fr/giaokhoa/vatly/thienvan/gstrinhxuanthuan/nguyenlybatdinhheisenberg.htm>
  19. Chồng chập lượng tử hay còn gọi là chồng chất lượng tử, xếp lớp lượng tử (quantum superposition) là cách dùng lý thuyết xác suất thống kê trên trường số phức để mô tả mọi trạng thái có thể của hiện tượng vật lý và có thể hiểu một cách sơ lược như sau: nếu một thế giới có thể ở trong một cấu hình bất kỳ, ở trong một sự sắp xếp khả dĩ của các hạt và các trường vật lý bất kỳ, và nếu thế giới này cũng có thể ở trong một cấu hình khác thì thế giới đó có thể ở trong một trạng thái là tổ hợp tuyến tính của cả hai cấu hình trong đó thành lượng (hệ số) của mỗi cấu hình được xác định là một số phức. Thí dụ, một hạt vật lý có thể có hai vị trí A và B, thì nó có thể ở trong một trạng thái C có dạng tổ hợp C = αA + βB; trong đó, α và β là hai số phức bất kỳ. “Quantum_superposition”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_superposition>
  20. Erwin Rudolf Josef Alexander Schrödinger (1887 – 1961 -- Nobel Vật lý 1933) là một nhà vật lý lượng tử người Áo, đóng góp đặc biệt của ông là phương trình mang tên ông mô tả trạng thái lượng tử về sự thay đổi của một hệ thống vật lý theo thời gian. Thí nghiệm suy tưởng về chú mèo mà ông mô tả còn được gọi là nghịch lý chú mèo Schrödinger. Tuy nhiên, điều nên lưu ý là các ý tưởng lượng tử hiện chỉ áp dụng cho thế giới vi mô ở mức lượng tử chứ không phải cho sinh giới hay vỹ mô. “Schrödinger's cat”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Schr%C3%B6dinger's_cat>.
  21. Tên viết thông dụng là Raja Ramanna (1925 -), GS vật lý hạt nhân và nhạc sĩ dương cầm người Ấn. Ông được xem là cha đẻ của vật lý hạt nhân Ấn. Ông cũng từng là bộ trưởng quốc phòng cũng như là nghị viên quốc hội Ấn. “Raja Ramanna - India's Most Eminent Nuclear Physicist”. Vigyan Prasar Science Portal. Subodh Mahanti. Truy cập 15/01/2010<http://www.vigyanprasar.gov.in/scientists/RRamanna.htm>
  22. Andrei Dmitrievich Sakharov (Russian:Андре́й Дми́триевич Са́харов) (1921 -1989 -- Nobel hoà bình 1975) nhà vật lý hạt nhân xuất sắc người Nga và sau đó là nhà hoạt động cho nhân quyền, viện sĩ viện hàn lâm Sô Viết đã có đóng góp lớn trong việc chế tạo bom tổng hợp hạch nhân từ Hydrogen. “Andrei Sakharov”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009<http://en.wikipedia.org/wiki/Andrei_Dmitrievich_Sakharov>
  23. Nicolaus Copernicus (1473 – 1543) là một nhà thiên văn học đã đầu tiên nêu ra ý tưởng của thuyết nhật tâm (Mặt Trời ở trung tâm) trong cuốn sách "De revolutionibus orbium coelestium" (Về sự chuyển động quay của các thiên thể ). Việc ra đời của thuyết nhật tâm đã cho thấy các quan sát biểu kiến xuông không thể được xem là chân lý và chính thuyết này đã đi ngược lại tin tưởng của truyền thống tôn giáo lúc bấy giờ (thiên chúa giáo) cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ. “Nicolaus Copernicus”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Nicolaus_Copernicus>
  24. James Clerk Maxwell (1831 - 18790 là nhà toán học và vật lý lý thuyết. Ông là người đã phát triểnn lý thuyết điện từ trường tổng hợp các quan sát thí nghiệm rời rạc về điện từ và ngay cả ánh sáng vào trong một lý thuyết trường điện từ. “James Clerk Maxwell” Wikipedia. Truy cập 17/02/2009<http://en.wikipedia.org/wiki/James_Clerk_Maxwell>
  25. Sắc hương vị xúc tương ứng lần lược là các cơ quan cảm thụ mắt, mũi, lưỡi, và thân thể.
  26. Thuật ngữ chính xác hơn trong Phật giáo gọi là Uẩn: Có 5 uẩn (ngũ uẩn) cũng gọi là Ngũ ấm, là năm (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không thể tìm thấy cái gọi là "ta". Ngũ uẩn bao gồm:
    1. Sắc (sa., pi. rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn), do Tứ đại chủng (sa., pi. mahābhūta) tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng.
    2. Thụ (sa., pi. vedanā), tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.
    3. Tưởng (sa. saṃjñā, pi. saññā), là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị..., kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện.
    4. Hành (sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác...
    5. Thức (sa. vijñāna, pi. viññāṇa), bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
  • Tì-bà-sa Luận (Vaibhashika) là một trong những trường phái Phật giáo cổ nhất . Tôn chỉ chính của phái này cho rằng "một niệm” (mental concept -- ý tưởng) chỉ có thể được tạo thành bởi tương tác giữa tâm, thông qua các các cơ quan nhận thức gọi là các uẩn (bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, và thức) và các đối tượng bên ngoài. “Vaibhashika”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Vaibhashika>.
  • Nyāya (sa. nyāya (ni-āyá)) nghĩa là "hồi quy", được dùng trong ý nghĩa "tam đoạn luận, suy diễn". Còn được phiên âm là phái Ni-dạ-da Đây một trong 6 trường phái triết học chính thời cổ Ấn, trường phái này đặc biệt về lập luận. Kinh điển chính của trường phái này dựa trên các bản kinh cùng tên được viết bởi triết gia Akṣapāda Gautama vào thế kỉ thứ 2 trước Tây lịch. “Nyaya”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Nyaya> Xin nhắc thêm ở đây, tam đọan luận là phương pháp lập luận cơ bản được sử dụng rộng rãi trong cả Phật học lẫn khoa học, dạng đơn giản nhất của nó có thể được hiểu qua thí dụ: (1) Mọi phần tử của A đều có chất X, b là phần tử của A, kết luận b có tính chất X.
  • Mīmāṃsā còn được phiên âm là Di-mạn-sai, có nghiã là "truy cứu" là một trong 6 trường phái triết học cổ Ấn chủ yếu dùng phương pháp thẩm tra để tìm đến bản chất của Pháp dựa trên chủ trương diễn dịch hay chú giải hệ thống Vệ-đà. Các tôn chỉ chính là việc cầu kinh, chống chủ trương khổ hạnh, và chủ trương thần bí. “Mimamsa”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Mimamsa>.
    Aidvaidavadanta Trong Anh ngữ thường được viết tách ra là Advaita Vedanta là bộ phận của trường phái mang tên Vedānta (có nghĩa là cứu cánh của Vệ Đà) Đây được xem là triết lý độc thần xác định cá nhân là một tiểu ngã và Phạm thiên tức là đại ngã các kinh điển chính là Upanishad, Bhagavad Gita và Brahma Sutra. Người đầu tiên hệ thống hóa rõ rệt các nguyên lý của phái Advaita Vedanta là Adi Shankara. “Advaita Vedanta”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://vi.wikipedia.org/wiki/Advaita_Vedanta>.
  • Dharmaśrī còn được dịch là Pháp Thắng hay phiên âm thành Đạt-ma-thi-la , một đại sư Phật giáo Ấn một trong hai tác phẩm của ngài đã được dịch dang Hán ngữ là bộ 4 quyển là A-ti-đàm Tâm Luận còn bộ kia nguyên văn Anh ngữ là "Greate Treaties on Instantiation" được dịch thành Đại-tì-bà-sa luận (từ chữ Abhidharma-mahāvibhāṣā-śāstra). Bộ luận này theo nhiều nhà nghiên cứu thì nó được soạn ra tại Hội Nghị Kết Tập Phật giáo lần thứ tư ở Kashmir (Xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Trang). Trong lịch sử Phật giáo còn có người cùng tên là ngài Lochen Dharmaśrī (1654-1717) tuy nhiên đây là một đại sư thuộc Phái Ninh Mã Tây Tạng, không phải là tác giả của bộ A-tì-đàm.
  • Thế Thân (sa. vasubandhu, bo. dbyig gnyen), ~316-396, cũng được dịch là Thiên Thân, gọi theo Hán âm là Bà-tu-bàn-đầu, Bà-tẩu-bàn-đậu, là một Luận sư xuất sắc của Thuyết nhất thiết hữu bộ (sa. sarvāstivādin) và Duy thức tông (sa. vijñānavādin), được xem là Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ. Người ta cho rằng Sư sinh tại Peshāwar (địa danh ngày nay), sống tại Kashmir và chết tại A-du-đà (ayodhyā). Sư vừa là em vừa là đệ tử của Vô Trước (sa. asaṅga), người sáng lập phái Duy thức. Vô Trước là người đã khuyến khích Thế Thân theo Đại thừa. “Thế Thân”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_Th%C3%A2n> Về bản luận giải A-tì-đàm-câu-xá (sa. abhidharmakośa-śāstra), thường được gọi tắt là Câu-xá luận, nghĩa là "Báu vật của Vi Diệu Pháp", tên khác là Thông minh luận, là bộ luận quan trọng nhất của Thuyết nhất thiết hữu bộ, được Thế Thân (sa. vasubandhu) soạn vào thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên tại Kashmir. Luận gồm có hai phần: sưu tập khoảng 600 kệ Vi Diệu Pháp câu-xá luận bản tụng (sa. abhidharmakośakārikā) và Vi Diệu Pháp câu-xá luận thích (sa. abhidharmakośa-bhāṣya), bình giải về những câu kệ đó. Ngày nay người ta còn giữ bản tiếng Hán và tiếng Tây Tạng của luận này, đó là những tác phẩm đầy đủ nhất để trả lời các câu hỏi về kinh điển. Toàn văn bài luận này đã được Thích Tuệ Sĩ dịch Việt từ Phạn ngữ. “Câu Xá Luận”. Phật Việt”. Truy cập 17/02/2009 <http://www.phatviet.com/dichtht/luan/ln01/cxl.htm>.
  • Dương điện tử và trung hoà tử lần lượt còn được gọi dưới các tên phiên âm là prô-tôn và nơ-tron từ chữ proton và neutron.
  • Theo Vật lý hạt sơ cấp thì Quark và lepton là hai loại hạt cơ bản Fermi, cả hai là cơ sở cấu tạo nên vật chất. Trong khi Quark có thể tương tác qua tương tác mạnh của vũ trụ thì lepton không có đặc tính này. Có 6 loại quark và tổ hợp của các quark lập thành các thành phần hạt nhân của nguyên tử như proton và neutron. Có 6 loại lepton trong đó điện tử và các neutrino là những lepton trong sáu loại này. “Quark” và “Lepton”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Quark> và <http://en.wikipedia.org/wiki/Lepton>.
  • Anton Zeilinger (1945 - ) nhà vật lý lượng tử người Áo hiện là trưởng phân khoa Quang học Lượng tử và Thông tin Lượng tử tại đạh học Vienna. Ông được xem là tiên phong trong ngành Thông tin Lượng tử. “Anton_Zeilinger”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009. <http://en.wikipedia.org/wiki/Anton_Zeilinger> Đại học Innsbruck là đại học có cơ hở hạ tầng lớn nhất nước Áo và có chỉ số sinh viên theo học đông hàng thứ ba của nước này. Trường được thành lập từ năm 1669. “University of Innsbruck”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010. <http://en.wikipedia.org/wiki/Innsbruck_University>
  • Tức là Hội nghị Tâm thức và Đời sống được tổ chứ vài năm một lần giữa các nhà khoa học quốc tế và Phật giáo mà đứng đầu là đức Dalai Lama. Lần đầu tiên tổ chức vào năm 1987. Hội nghị gần đây nhất (lần thứ 18) diễn ra vào tháng 10 năm 2008 tại Berlin. Mind & Life Institue. Truy cập 14/01/2010. <http://www.mindandlife.org/index.html>.
  • Arthur Guy Zajonc (1949 - ) hiện là giáo sư trưởng khoa vật lý tại đại học Amherst Hoa kỳ. Arthur Zajonc. Truy cập 17/02/2009. <http://www.arthurzajonc.org/ >
  • Niels Henrik David Bohr (1885-1962 -- Nobel Vật lý 1922) là nhà vật lý Đan Mạch đã đóng góp cho nền tảng hiểu biết về cấu trúc nguyên tử và cơ học lượng tử. Ông được xem là một trong những nhà vật lý có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế ki 20. “Niels_Bohr”. Wikipedia. Truy Cập 17/02/2009 <http://en.wikipedia.org/wiki/Niels_Bohr> Học viện Niels Bohr là một bộ phận của viện vật lý thiên văn và địa vật lý cùng tên. Niels Bohr đã làm việc tại đây từ 1914. Nhân sinh nhật lần thứ 80 của Niels Bohr, trường được đổi sang tên ông (7 tháng 10 năm 1965). Trong suốt các thập niên 1910 cho đến 1930, nơi đây đã là trung tâm nghiên cứu phát triển vất lý nguyên tử xuyên suốt châu Âu. “Niels Bohr Institute”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010. <http://en.wikipedia.org/wiki/Niels_Bohr_Institute>
  • Ernest Rutherford, 1st Baron Rutherford of Nelson (1871-1937 -- Nobel hóa học 1908) nhà vật lý người Tân-Tây-Lan được xem là cha đẻ của vật lý hạt nhân. Người đã thành công trong lý thuyết quỹ đạo của nguyên tử thông qua phát hiện của ông về thí nghiệm bắn phá nguyên tử của một lá vàng mỏng. “Ernest Rutherford“. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010 <http://en.wikipedia.org/wiki/Ernest_Rutherford>
  • Sir Joseph John “J.J.” Thomson, (1856-1940 -- Nobel Vật lý 1906) là nhà Vật lý Anh. có công trong việc phát hiện điện tử và nguyên tố đồng vị và la người phát minh của quang phổ khối lượng. “J.J._Thomson”. Wikipedia. Truy cập 14/01/2010 <http://en.wikipedia.org/wiki/J.J._Thomson>.
  • Kính viễn vọng không gian này mang tên nhà thiên văn Edwin P. Hubble (1889-1953) đây là đài quan sát nằm ngoài không gian khổng lồ được xem là cuộc cách mạng do việc cung cấp được các ảnh rõ và sâu của vũ trụ, trong khoảng từ hệ Mặt trời cho đến các thiên hà xa xăm được hình thành không lâu sau vụ nổ lớn 13.7 tỉ năm trước. HubbleSite <http://hubblesite.org/> và “Hubble Fact”. NASA. <http://hubble.nasa.gov/>. Truy cập 14/01/2010
  • Mục lục[sửa]

    Liên kết đến đây

    Xem thêm liên kết đến trang này.