Đồ nhựa và Ung thư - Kỳ 2: Loại nhựa nào tốt nhất để đựng thực phẩm?

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Ở kỳ trước, chúng tôi đã đề cập đến vấn đề nhựa khi gặp nhiệt (xem lại tại đây). Ở kỳ này, chúng tôi xin phân tích kỹ 7 loại nhựa đang được lưu hành trên thị trường, theo thứ tự các ký số của chúng như hình dưới đây.

Hình 1: Các ký hiệu nhựa đã được thương mại hóa.

1. Polyethylene terephthalate (PET, PETE)

Đây là loại nhựa phổ biến nhất được dùng để là vỏ chai nước. Nguyên nhân có lẽ là vì tính kinh tế ở khâu sản xuất, cũng như khả năng tái chế cao của nhựa này.

Ngoài vỏ chai nước khoáng ra, PET còn thường được dùng làm vỏ chai nước tinh khiết, chai dầu ăn, chai nước ngọt, chai nước trái cây, đôi khi là chai nước rửa chén.

Hình 2: Các dạng chai nhựa PET thường gặp


PET khá bền về mặt hóa học ở nhiệt độ thường. Một số tin đồn về việc vỏ chai PET sinh chất gây ung thư ở nhiệt độ thấp đã được chúng tôi làm rõ ở phần trước (xem thêm tại đây). Tuy nhiên, ở nhiệt độ cao, PET không bền và có thể sinh ra một số aldehyde và thôi nhiễm antimony (nguyên tố á kim, sẽ đề cập ở đoạn tiếp theo). Theo một công trình nghiên cứu khá công phu vào năm 2013, hàm lượng acetaldehyde, formaldehyde và tổng antimony tăng không đáng kể dù để nước trong chai PET ở 50 độ C liên tục trong 10 ngày, nhưng tốc độ tăng này nhảy vọt nếu để ở 60 độ C[1].

Antimony, tiếng Việt gọi là Antimon, là một nguyên tố á kim. Các hợp chất của nguyên tố này, nhất là dạng antimony trioxide (Sb2O3, gọi tắt là ATO), và antimony triacetate được quan tâm kỹ khi xem xét chất lượng nhựa PET, vì chúng là thành phần xúc tác trong quá trình sản xuất. Antimony dễ dàng bị rửa đi nếu nhà sản xuất tuân thủ nguyên tắc.

Độc tố của Antimony phụ thuộc vào dạng hợp chất mà nó tồn tại. Dạng ATO theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì hầu như không có độc tính cấp tính (LD50 > 20 000 mg/kg trọng lượng cơ thể), do nó tan rất ít trong môi trường nước. Các độc tính mãn tính, bao gồm cả gây đột biến và gây ung thư đều là thử nghiệm trên động vật, kết quả dương tính ở nồng độ cao và thời gian dài. WHO xếp ATO vào nhóm 2B (nhóm các chất có thể gây ung thư ở người)[2].

Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy, PET nếu bị đun nóng hoặc nhất là cho vào lò vi sóng sẽ thôi nhiễm antimony đáng kể. Nghiên cứu cũng cho thấy, mặc dù antimony có thể được rửa đi dễ dàng sau khi sản xuất nhựa, nhưng nếu công ty nào không thực hiện thì hàm lượng tồn dư antimony cũng đáng kể[3].

Một nghiên cứu khác cũng năm 2010 cho thấy, khi so sánh giữa PET và thủy tinh, chất lượng nước chứa trong 2 loại vật liệu này không khác nhau khi xét về mặt gây đột biến, dù đã qua 10 ngày ở 40 độ C[4].

Và còn nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, hàm lượng các độc tố sinh ra từ vỏ chai PET là phụ thuộc nhiều vào thời gian và nhiệt độ bảo quản[5][6][7][8][9][10].

Bên cạnh antimony, các hợp chất bromate hóa cũng được tìm thấy là thôi nhiễm vào nước được báo cáo trong một nghiên cứu năm 2012, nhưng nghiên cứu này không chỉ ra rằng hàm lượng này có ở mức nguy hiểm hay không[11].

Tóm lại:

  • Vỏ chai PET (số hiệu là 1) không phải loại nhựa tốt nhất để tái sử dụng làm vật chứa nước uống hoặc thực phẩm.
  • Nên chỉ sử dụng trong 1 thời gian ngắn (khoảng dưới 10 ngày) rồi nên thay chai mới.
  • Không sử dụng nhựa PET để đựng các thực phẩm nóng, hay cho vào lò vi sóng.

2. High-density polyethylene

High-density polyethylene (HDPE), có tên khác là polyethylene high-density (PEHD), là loại nhựa có độ bền cơ học cao, hầu như trơ hoàn toàn về mặt hóa học, có thể chịu được nhiệt độ cao (120 độ C trong thời gian ngắn, hoặc 110 độ C trong thời gian dài).

HDPE thường được dùng là vỏ bình sữa cho trẻ, vỏ hộp thuốc, vỏ bình nước giặt, nước lau sàn, nước tẩy, vỏ bình dầu gội, sữa tắm…

Hình 3: các dạng vỏ chai nhựa HDPE thường gặp

Đến nay, hầu như chưa có báo cáo khoa học nào cho thấy có vấn đề về sức khỏe khi dùng HDPE làm vật chứa thực phẩm, ngoại trừ một báo cáo năm 2011 cho rằng tất cả các nhựa có mặt trên thị trường đều có thể thôi nhiễm các hợp chất giống nội tiết tố[12]. Báo cáo này sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần cuối của bài viết này.

Tóm lại:

  • Đây là một trong những loại nhựa ổn nhất để sử dụng trong các mục tiêu thường ngày, trong đó có chứa thực phẩm, nhất là các thực phẩm cho trẻ nhỏ như bình sữa, chai nước, bình bột.
  • Tránh bỏ vào lò vi sóng, tránh chứa thực phẩm quá nóng (trên 110 độ C) hoặc/và nhiều chất béo như cháo, nước dùng (nước lèo) của các loại bún, mì, phở, trừ khi chúng là sản phẩm đã được thiết kế chuyên dụng cho việc đựng thực phẩm nóng

3. Polyvinyl Chloride

Polyvinyl Chloride (PVC) là loại nhựa tổng hợp được sử dụng rộng rãi thứ 3, sau polyethylene và polypropylene.

Nhựa đa năng này có thể ở dạng cứng hay dẻo, tùy phụ gia thêm vào. Nó thường được sử dụng trong việc sản xuất các vỉ thuốc, tấm trải giường, chai lọ không đựng thực phẩm, các loại thẻ (thẻ ngân hàng, thẻ xe có chip), và sản phẩm đặc biệt đáng quan tâm là đồ chơi trẻ em và wrap, hay còn gọi là bao kiếng, giấy kiếng ... hay dùng để bọc thực phẩm.

Hình 4: Giấy kiếng là một sản phẩm từ nhựa PVC.

PVC là loại nhựa được cho là không nên nhất để đựng thực phẩm. Nhiều báo cáo đến nay quan tâm tới các phụ gia phtalates và bisphenol A được sử dụng trong sản xuất PVC. Bằng chứng khoa học đến nay cho thấy các sản phẩm này được sinh ra nhiều ở nhiệt độ cao[13].

Các phtalates, trong đó được quan tâm nhất là Di-2-ethylhexyl phthalate (DEHP), Diethyl phthalate (DEP) và Butylbenzyl phthalate (BBzP). Các hợp chất này, mặc dù đến nay được xếp vào nhóm 3 (nhóm các chất không có vẻ gây ung thư cho người) theo WHO[14][15], hoặc không có thông tin về khả năng gây ung thư (đối với DEP), nhưng cùng với bisphenol A, các tác động lên hệ sinh dục, gan, thận đều được cảnh báo bởi các tổ chức sức khỏe lớn như WHO[15][16], Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA)[17], Cơ quan về các chất độc hại và đăng ký bệnh (ATSDR, cũng trực thuộc chính phủ Mỹ)[18][19].

Nhưng do các hợp chất này hầu như chỉ đi vào cơ thể được thông qua đường ăn uống và hít thở, trong đó đường ăn uống là chính. Do đó, các lưu ý cần nhớ là:

  • Không nên dùng các vật từ nhựa PVC để đựng thực phẩm, nhất là thực phẩm nóng.
  • Không nên cho trẻ quá nhỏ chơi các đồ chơi có nhựa PVC, để tránh trẻ ngậm các đồ chơi này.
  • Cẩn thận khi wrap thực phẩm bằng giấy kiếng, không nên để chúng chạm vào đồ ăn khi hâm nóng.
  • Phụ nữ khi mang thai nên cẩn trọng với đồ nhựa khi dùng, tránh các sản phẩm từ PVC.

4. Low Density Polyethylene

Low Density Polyethylene (LDPE), cũng tương tự như HDPE (số 2), cũng là loại nhựa hầu như trơ về mặt hóa học, nhưng kém bền vật lý hơn HDPE một chút, có thể chịu được 95 độ C trong thời gian ngắn, hoặc 80 độ C trong thời gian dài.

Do tính bền vật lý và hóa học, LDPE thường được dùng để chế tạo các chai lọ đựng hóa chất, găng tay nylon, túi nylon…

Hình 6: Một số sản phẩm nhựa LDPE thường gặp.

Tóm lại:

  • Để sử dụng cho các mục đích hằng ngày, nếu không gặp nhiệt độ cao, thì LDPE cũng là một lựa chọn tốt.
  • Nhưng vì khả năng chịu lực vật lý kém, nó dễ bị trầy xước, gãy vỡ hơn HDPE, nên được khuyến cáo là chỉ nên dùng trong thời gian rồi thay thế nếu thấy có dấu hiệu biến dạng vật lý.

5. Polypropylene

Polypropylene (PP) là loại nhựa có cấu trúc gần tương tự như 2 loại nhựa PE (LDPE và HDPE), tính bền vật lý và trơ hóa học cũng tương tự. PP loại kém bền nhất có nhiệt độ nóng chảy khoảng 130 độ C. Do đó, cũng chỉ thích hợp để đựng các thực phẩm nóng đến khoảng 110 – 120 độ C.

Các sản phẩm nhựa PP thường được tìm thấy là các hộp chuyên đựng thực phẩm, bàn ghế nhựa, một số loại bao nylon, ly nhựa, dao nhựa, muỗng (thìa) nhựa…

Hình 6: Một số sản phẩm gia dụng từ nhựa PP.

Đây là loại nhựa có thể dùng an toàn, theo kiến thức của thế giới cho đến nay, cho các mục đích hằng ngày. Các lời khuyên về sử dụng nhựa PP cũng tương tự như nhựa HDPE. 6. Polystyrene

Polystyrene (PS) là loại nhựa rất phổ biến, và có cũng có thể ở dạng cứng (hộp đĩa CD, dao cạo râu) hoặc dạng xốp. Dạng xốp của nó còn được gọi là Styrofoam.

PS là loại nhựa được dùng nhiều trong công nghiệp đóng gói và đựng thực phẩm như là chén, đĩa, dao thìa (muỗng) nhựa, hộp xốp (hộp cơm, hộp xôi), khay đựng thịt, hộp cứng đựng thức ăn (hộp sữa chua).

Hình 7: Một số sản phẩm thông dụng từ PS.

LƯU Ý: Rất nhiều sản phẩm dễ nhầm lẫn giữa nhựa PS và nhựa PP, như ly nhựa, dao muỗng (thìa) nhựa… Mọi người cần lưu ý để phân biệt. Một cách gần đúng, các sản phẩm từ PS thường đục, còn các sản phẩm từ PP thường trong suốt.

Đây cũng chính là loại nhựa làm nên các miếng xốp dùng để chèn vào thùng chứa các vật dễ hư vỡ do va đập, và là loại nhựa bị “ăn mòn” trong vụ dầu cá vừa qua (thực chất hiện tượng là hòa tan, xem thêm ở đây).

PS từ lâu đã bị nghi ngờ là không tốt khi sử dụng cho đóng gói thực phẩm, một phần do tính kém bền vật lý và hóa học của nó. Các vấn đề về PS gần đây lại được đưa ra lại vì WHO từ năm 2002 đã nâng mức cảnh báo của styrene, một trong những thành phần dễ bị thôi nhiễm ra nhất từ PS, lên nhóm 2B (nhóm có thể gây ung thư cho người)[20]. Trong khi đó, không chỉ styrene, mà còn một số hợp chất thơm cũng được tìm thấy trong nước nóng đựng trong chai nhựa PS, tuy nhiên nghiên cứu này không chỉ ra được lượng thôi nhiễm đó có ở mức nguy hiểm hay không[21].

Đến nay, số lượng các nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế, và chưa thật sự nêu bật được mối nguy hại của PS. Do đó, lời khuyên cho hiện tại là:

Hạn chế tối đa việc dùng hộp xốp, ly, chén bát, muỗng (thìa) bằng nhựa PS để đựng thực phẩm, nhất là thực phẩm nóng.

7. Nhựa khác

Các loại nhựa khác 6 loại trên đều được gắn mác số 7. Trong đó, nhựa Polycarbonate là đáng quan tâm nhất. Đây là loại nhựa thường được dùng để làm thùng đựng nước (nhất là loại thùng 20 lít), vỏ vali, ốp lưng điện thoại, vỏ hộp CD, tôn nhựa…

Hình 8: Một số sản phẩm thông dụng từ nhựa Polycarbonate.

Theo một nghiên cứu năm 2011 cho thấy, bisphenol A, một thành phần của loại nhựa này, là loại giả nội tiết tố thôi nhiễm ra nhiều nhất trong nước đựng trong nhựa polycarbonate, tuy nhiên tất cả các loại nội tiết tố thôi nhiễm này, bao gồm luôn bisphenol A, đều nằm dưới mức an toàn cho đường uống[22].

Ngoài ra, polycarbonate cũng được dùng làm nhiều sản phẩm cho trẻ nhỏ, trong đó có bình sữa. Tuy nhiên, các nghiên cứu đến giờ vẫn cho thấy, mặc dù có thôi nhiễm bisphenol A, ngay cả ở điều kiện nhiệt độ cao như trong lò vi sóng, thì hàm lượng bisphenol A thôi nhiễm cũng nằm dưới mức an toàn theo tiêu chuẩn Mỹ[23][24].

Do đó, mặc dù loại nhựa này bị nhiều nơi cảnh báo, thậm chí kêu gọi bài trừ, các nghiên cứu đến giờ chưa cho thấy bằng chứng ủng hộ việc này.

Tuy nhiên, vì mác số 7 chỉ nói lên được đấy là loại nhựa khác, nên cũng không thể chắc chắn đâu là nhựa polycarbonate, đâu không phải. Cho nên, mọi người, nhất là các bậc phụ huynh có con nhỏ, nên cẩn thận khi chọn bình sữa cho con mình. Tốt nhất vẫn là cho bú mẹ, vì nhiều tài liệu khoa học đã chứng minh rằng sữa mẹ giúp trẻ giảm nguy cơ nhiều loại ung thư, đồng thời cũng giúp mẹ giảm nguy cơ ung thư vú, loại ung thư số 1 ở phụ nữ. Chúng tôi sẽ có loại bài về vấn đề sữa mẹ sau.

8. Kết luận

Đến nay, chưa có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy mối liên hệ giữa sử dụng đồ nhựa và ung thư. Các vấn đề được quan tâm chủ yếu là khả năng thôi nhiễm các chất giả nội tiết tố vào thực phẩm.

Trong các loại nhựa, ưu tiên chọn nhựa an toàn cho đựng thực phẩm là: HDPE (#2), PP (#5), LDPE (#4), PET (#1). Còn lại các loại nhựa PS (#6), PVC (#3), nhựa khác (#7) không được ưu tiên khi dùng là dụng cụ đựng thực phẩm nóng. Với thực phẩm nguội và nước uống, chưa thấy có sự khác biệt lớn giữa các loại nhựa này.

Tuy nhiên, cũng xin lưu ý rằng, nhựa không phải là ưu tiên số một khi chọn dụng cụ đựng thực phẩm. Như đã nói ở phần 2, một báo cáo năm 2011 đã chỉ ra rằng, hầu hết các sản phẩm nhựa đều sẽ sinh chất giả nội tiết tố khi gặp nhiệt độ cao, chỉ khác nhau ở hàm lượng[12]. Mặc dù vậy, như đã phân tích ở trên, hàm lượng các chất này đều nhỏ hơn mức an toàn. Nhưng, xin nhớ cho, đó là các thí nghiệm với sản phẩm nhựa được làm từ các nước phương Tây. Chúng tôi không thể đảm bảo các kết quả trên có thể được lặp lại đối với các sản phẩm nhựa ở Việt Nam. Do đó, chúng tôi khuyên mọi người hãy hạn chế sử dụng đồ nhựa để đựng thực phẩm nóng. Nên dùng các dụng cụ kim loại hoặc thủy tinh nếu được.

Chịu trách nhiệm thông tin

  • Nguyễn Cao Luân
  • Lần cuối xem xét khoa học: 22/4/2016.
  • Lần cuối chỉnh sửa: 22/4/2016

Tài liệu tham khảo

  1. Cristina Bach, X.D., Isabelle Severin, Jean-François Munoz, Serge Etienne, Marie-Christine Chagnon, Effect of temperature on the release of intentionally and non-intentionally added substances from polyethylene terephthalate (PET) bottles into water: Chemical analysis and potential toxicity. Food Chemistry, 2013. 139: p. 672-680.
  2. Antimony in drinking-water. [cited 2016 January 19th]; Available from: http://www.who.int/water_sanitation_health/dwq/chemicals/0304_74/en/index7.html.
  3. Xiaoliang Cheng, H.S., Craig D. Adams, Yinfa Ma, Assessment of metal contaminations leaching out from recycling plastic bottles upon treatments. Environmental Science and Pollution Research, 2010. 17(7): p. 1323-1330.
  4. Ceretti, E., et al., Comparative assessment of genotoxicity of mineral water packed in polyethylene terephthalate (PET) and glass bottles. Water Res, 2010. 44(5): p. 1462-1470.
  5. Leivadara, S.V., A.D. Nikolaou, and T.D. Lekkas, Determination of organic compounds in bottled waters. Food Chem, 2008. 108(1): p. 277-286.
  6. Guart, A., et al., Effect of bottling and storage on the migration of plastic constituents in Spanish bottled waters. Food Chem, 2014. 156: p. 73-80.
  7. Bach, C., et al., Effect of sunlight exposure on the release of intentionally and/or non-intentionally added substances from polyethylene terephthalate (PET) bottles into water: Chemical analysis and in vitro toxicity. Food Chem, 2014. 162: p. 63-71.
  8. Bach, C., et al., Effect of temperature on the release of intentionally and non-intentionally added substances from polyethylene terephthalate (PET) bottles into water: Chemical analysis and potential toxicity. Food Chem, 2013. 139(1-4): p. 672-680.
  9. Keresztes, S., et al., Leaching of antimony from polyethylene terephthalate (PET) bottles into mineral water. Science of the Total Environment, 2009. 407(16): p. 4731-4735.
  10. Westerhoff, P., et al., Antimony leaching from polyethylene terephthalate (PET) plastic used for bottled drinking water. Water Res, 2008. 42(3): p. 551-556.
  11. Andra, S.S., et al., Co-leaching of brominated compounds and antimony from bottled water. Environ Int, 2012. 38(1): p. 45-53.
  12. 12,0 12,1 Yang, C.Z., et al., Most Plastic Products Release Estrogenic Chemicals: A Potential Health Problem that Can Be Solved. Environ Health Perspect, 2011. 119(7): p. 989-996.
  13. Balashova, I.M., E. Meco, and R.P. Danner, Diffusion and solubility of hazardous compounds in polyvinyl chloride. Fluid Phase Equilibria, 2014. 366: p. 69-73.
  14. McGregor, D.B., et al., An IARC evaluation of polychlorinated dibenzo-p-dioxins and polychlorinated dibenzofurans as risk factors in human carcinogenesis. Environ Health Perspect, 1998. 106 Suppl 2: p. 755-60.
  15. 15,0 15,1 IARC, BUTYL BENZYL PHTHALATE. IARC MONOGRAPHS. 73: p. 115-129.
  16. BUTYL BENZYL PHTHALATE – WHO Concise International Chemical Assessment Document 17. [cited 2016 January 19th]; Available from: http://www.who.int/ipcs/publications/cicad/en/cicad17.pdf.
  17. Bis(2-ethylhexyl) phthalate (DEHP). [cited 2016 January 19th]; Available from: http://www3.epa.gov/airtoxics/hlthef/eth-phth.html.
  18. Di(2-ethylhexyl)phthalate (DEHP). [cited 2016 January 19th]; Available from: http://www.atsdr.cdc.gov/substances/toxsubstance.asp?toxid=65.
  19. Diethyl phthalate. [cited 2016 January 19th]; Available from: http://www.atsdr.cdc.gov/substances/toxsubstance.asp?toxid=112.
  20. IARC, STYRENE. IARC MONOGRAPHS ON THE EVALUATION OF CARCINOGENIC RISKS TO HUMANS. 82: p. 437-521.
  21. Ahmad, M. and A.S. Bajahlan, Leaching of styrene and other aromatic compounds in drinking water from PS bottles. Journal of Environmental Sciences-China, 2007. 19(4): p. 421-426.
  22. Diana, A. and V. Dimitra, Alkylphenols and phthalates in bottled waters. Journal of Hazardous Materials, 2011. 185(1): p. 281-286.
  23. Nerin, C., et al., Determination of potential migrants in polycarbonate containers used for microwave ovens by high-performance liquid chromatography with ultraviolet and fluorescence detection. Journal of Agricultural and Food Chemistry, 2003. 51(19): p. 5647-5653.
  24. Wong, K.O., L.W. Leo, and H.L. Seah, Dietary exposure assessment of infants to bisphenol A from the use of polycarbonate baby milk bottles. Food Additives and Contaminants Part a-Chemistry Analysis Control Exposure & Risk Assessment, 2005. 22(3): p. 280-288.
Rss.jpg
Mời bạn đón đọc các bài viết tiếp theo bằng cách đăng kí nhận tin bài viết qua email hoặc like fanpage Thuvienkhoahoc.com để nhận được thông báo khi có cập nhật mới.

Nguồn

Liên kết đến đây