Khoa học hóa cách suy nghĩ, làm việc, học tập/Chương 1.5

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

 Mục lục - Lời mở đầu - Chương 1 - Chương 2 - Chương 3 - Chương 4

 

Phần: 1.1 - 1.2 - 1.3 - 1.4 - 1.5 - 1.6 - 1.7 - 2.1 - 2.2 - 2.3 - 2.4 - 2.5 - 3.1 - 3.2 - 3.3 - 3.4 - 3.5 - 3.6 - 4.1 - 4.2 - 4.3 - 4.4 - 4.5 - 4.6

TIN TƯỞNG KHOA HỌC

“Khoa học là vô địch. Chỉ có nhà bác học mới nhầm lẫn”

Tuy có tính nghi vẫn khoa học, người nghiên cứu phải có lòng tin tuyệt đối vào khoa học. Từ khi thành hình, khoa học đã giúp loài người đi sâu có kết quả vào bí ẩn của thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ có kết quả cho con người. Trước đây đã thế, từ nay về sau cũng sẽ thế.

Nếu không có lòng tin rằng chúng ta có thể nắm được tính thực tại của thế giới tự nhiên nhờ những cấu trúc lý thuyết của chúng ta, nếu không có lòng tin vào tính chất hài hoà tự thân vủa thế giới chúng ta, thì sẽ không có bất cứ khoa học nào. Chính lòng tin này đã và luôn luôn sẽ là động cơ chính của mọi sáng tạo khoa học…

Khoa học, ta đã biết, là hoạt động của con người cố gắng dẫn dắt các hiện tượng tự nhiên tới những mối liên hệ không đổi, tức tới quy luật. Và những quy luật này có tính chất quyết định chặt chẽ trong điều kiện của chúng.

Mọi hiện tượng nhất định đều xảy ra trong những điều kiện nhất định. Ta phải tin vào mối quan hệ nhân quả đó trong thiên nhiên.

Nước đun sôi sẽ bốc thành hơi: không thể có hơi với nước để nguội.

Nếu thiếu lòng tin, không có thể giải thích được gì, tức là công nhận tính không quyết định của sự vật, tính chất bất hợp lý trong thiên nhiên, tức là từ bỏ lẽ phải, từ bỏ lý trí.

Mặc dù quy luật không coi như được kiểm chứng hoàn toàn bằng thực nghiệm, ta vẫn phải tin vào mối quan hệ tuyệt đối và cần thiết của sự vật.

Nước để nguội vẫn có thể bốc hơi nhưng việc bốc hơi rất chậm, mắt thường ta không thể nhận biết. Tuy thế, mệnh đề nước đun sôi sẽ bốc thành hơi vẫn giữ tính quyết định chặt chẽ của nó.

Muốn chính xác, ta phải nói: Nước đun sôi sẽ bốc ngay thành hơi, không thể nào có hơi ngay với nước để nguội.

Tin tưởng vào mối quan hệ nhân quả của hiện tượng tức không chấp nhận tính chất ngẫu nhiên của hiện tượng. Nếu hiện tượng có vẻ xảy ra ngẫu nhiên, là do khoa học chưa giúp ta biết hết điều kiện làm nảy sinh hiện tượng.

Thí dụ, một tai nạn giao thông hàng ngày như xe chẹt người đi đường có tính chất ngẫu nhiên. Thật ra đây là sự trùng hợp của hai dãy sự kiện: quá trình sai lệch máy móc và quá trình biến diễn tâm lý xã hội của người lái xe và người đi đường, cả hai quá trình xảy ra ở đúng địa điểm và thời điểm đó.

Sự thống nhất tính nghi vấn khoa học và sự tin tưởng vào khoa học ở người nghiên cứu là một tất yếu của sự khoa học.

Có nhà khoa học đã nói: Người nghi vấn là nhà bác học chân chính, anh ta chỉ có nghi vấn bản thân, và cách giải thích của chính mình. Nhưng anh ta tin ở khoa học, và chấp nhận một chân lý tuyệt đối là tính chất quyết định của hiện tượng.

Không nên lẫn tính nghi vấn khoa học với tính hoài nghi.

Có tính hoài nghi là người chỉ có tin ở mình mà không tin vào cái gì khác, kể cả khoa học. Người hoài nghi quá tin ở mình tới mức cho rằng khoa học không có những định luật cố định và xác định.

Tính hoài nghi sẽ dẫn tới bất tri luận có hại cho sự phát triển của khoa học và cho sự phát triển của tư duy.

Người hoài nghi sẽ mất hướng trong suy nghĩ và từ đó sẽ mất hướng trong hành động chủ quan, tự phát, không kết quả. Châm ngôn của người hoài nghi là “không chắc như vậy” còn người nghi vấn là “Chưa chắc như vậy”. ý nghĩa “không chắc chắn như vậy” dẫn tới chỗ bó tay ngồi chờ, còn ý nghĩa “chưa chắc chắn như vậy” dẫn tới hành động để đi tới chắc chắn.

Có người không tin tưởng lắm ở tính tất yếu của phát minh khoa học vì cho là phát minh khoa học thường có tính chất ngẫu nhiên khó đoán trước.

Vì tình cờ phải làm thịt ếch để nấu cháo cho vợ mà nhà sinh lý học Ganvani đã tìm ra hiện tượng điện sinh học.

Vì tình cờ có tấm bản cấy liên cầu khuẩn bị nhiễm nấm mà Flemming mới tìm ra Pênixilin. Vì tình cờ việc chiết men tế bào thất bại mà Cơritxian đơ Đuvơ đã tìm ra lysosom.


Ta phải chia hai loại ngẫu nhiên tâm ly và ngẫu nhiên ngoại lai.

Ngẫu nhiên tâm lý tức sự trùng hợp của hai ý niệm trong không gian và thời gian. Đây là hiện tượng thông thường trong khoa học. Khoa học ở thới kỳ nào cũng có thông tin rộng rãi. Ở thời kỳ nào và nước nào, cũng có những đội ngũ khoa học cùng suy nghĩ về một vấn đề và về hướng để giải quyết vấn đề. Trong cuộc chạy đua đi tìm chân lý, có người về trước, về sau nhưng cũng có khi hai người cùng về một lúc, sai lệch thời gian không đáng kể.

Phát minh khoa học nào cũng đều mang dấu ấn của thời đại. Không có người này phat minh, rẽ có người khác. Sự phát minh ra hình học Phiơclit là của Lôbasepxki ở Nga, Bôlyai ở Hung và Gauxơ ở Đức.

Sự phát minh ra tính phóng xạ tự nhiên là do ba hiện tượng bất ngờ được các nhà khoa học phát hiện trong cùng một thời kỳ: sự xuất hiện những điểm huỳnh quang trên màn ảnh của Rơnghen, sự hiện ảnh của các tinh thể muối Uranium trong các tấm kính để trong ngăn kéo của Beccơren, sư quan sát phóng xạ bất thường của vài quặng có uranium của Mari Curi..

Ngẫu nhiên ngoại lai tức một sự cố không biết trước trong vài trường hợp có thể dẫn dắt người nghiên cứu theo hướng mới và đi tới kết quả.

Một sự kiện có vẻ bình thường có thể gây một tia chớp tư duy trong trí tuệ của nhà khoa học luôn bị ám ảnh bởi giải pháp cho vấn đề. Tiềm thức có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu. Lịch sử khoa học đã chứng tỏ thiên tài khoa học nào cũng tất yếu gặp những ngẫu nhiên sung sướng.

Ngẫu nhiên phát minh không đến với người quan sát bình thường mà đều đến với những trí tuệ đã có chuẩn bị trước.

Niưtơn đã phải cải chính là ông khám phá ra sự hấp dẫn vũ trụ không phải nhờ thấy quả táo rơi, mà suy nghĩ luôn luôn về vấn đề này và kết quả nghiên cứu của ông chỉ do lao động, do một tư duy kiên trì…Ông đã nói: Tôi giữ chủ đề nghiên cứu luôn ở trước mặt và tôi đợi những tia sáng léo lên, dần dần rõ nét.

Có người còn đòi hỏi khoa học quá mức nhiệm vụ được đặt ra cho nó, đòi nó phải giải đáp tới cùng câu hỏi “Tại sao?”, thí dụ như tại sao lại có vũ trụ? Tại sao lai có sự sống?... Giải đáp những câu hỏi trên là nhiệm vụ của triết học đi tìm chân lý tuyệt đối của sự vật.

Khoa học có mục đích tìm hiểu mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng trong tự nhiên, tức giúp con người đạt chân lý tương đối của sự vật.

Vì vậy, khoa học chỉ có nhiệm vụ giải thích bản chất của vũ trụ, bản chất của sự sống… và chắc chắn nó làm được nhiệm vụ này.

Liên kết đến đây

Xem thêm liên kết đến trang này.