Khoa học hóa cách suy nghĩ, làm việc, học tập/Chương 3.3

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

 Mục lục - Lời mở đầu - Chương 1 - Chương 2 - Chương 3 - Chương 4

 

Phần: 1.1 - 1.2 - 1.3 - 1.4 - 1.5 - 1.6 - 1.7 - 2.1 - 2.2 - 2.3 - 2.4 - 2.5 - 3.1 - 3.2 - 3.3 - 3.4 - 3.5 - 3.6 - 4.1 - 4.2 - 4.3 - 4.4 - 4.5 - 4.6

TỰ HỌC

“Ai muốn trở thành một người lao động thành thạo, người ấy phải tập đọc sách có hệ thống, rèn luyện bản thân một cách có hệ thống”

Tự học chủ yếu là tự đọc tài liệu để thu thập kiến thức.

Ai biết chữ cũng tưởng là mình biết đọc. Thật ra không ít người biết chữ nhưng không biết đọc nói rõ hơn, không biết cách đọc.

Đối với các tài liệu khoa học lại càng phải biết cách đọc. Nếu không, ta sẽ bị ngập vào trong một cái rừng ý niệm, quan niệm ngày càng nhiều và ngày càng đổi mới, không một bộ óc bách khoa nào có thể chứa nổi.

Có văn hào đã nói: Đọc sách có ba cách, một là đọc và không hiểu, hai là đọc và chỉ hiểu những điều nói trong sách, và ba là đọc và còn hiểu cả những điều không viết trong sách nữa.

Cách đọc sách thứ ba là cách nên tập luyện vì làm cho người đọc mở rộng được kiến thức và bồi dưỡng được trí tuệ.

Muốn thế, trước hết phải biết cách đọc có hệ thống.

Đọc có hệ thống là đọc các tác phẩm cổ điển liên can tới vấn đề nghiên cứu. Theo Lênin, đọc và nghiên cứu các tác phẩm cổ điển không chỉ đem lại cho ta kiến thức. Được viết trong hoàn cảnh nhất định với một nhiệt tình to lớn, các tác phẩm đó sẽ làm lan sang người đọc nhiệt tình này và gợi cho ta lòng ham muốn tìm hiểu. thiếu nhiệt tình và long ham muốn tìm hiểu không thể có sáng tạo.

Muốn hiểu thầu đáo học thuyết Đácuyn, không chỉ bằng lòng với nội dung học thuyết trình bầy trong sách giáo khoa , mà phải tìm đọc sách “Nguồn gốc các loài”, cũng như muốn tìm hiểu học thuyết Lamác phải đọc thêm cuốn “Triết học động vật”.

Chính qua những tác phẩm đó mới có thể biết được phương pháp đặt vấn đề, giải quyết vấn đề của tác giả, quá trình sưu tầm tư liệu, suy nghĩ trên tư liệu, tinh thần vượt mọi khó khăn trên con đường khoa học của họ.

Tương tự như thế, ta không thể hiểu nổi thực chất của chủ nghĩa Mác nếu không đọc “Tư bản” và những tài liệu gốc liên can tới tác giả.

Đọc có hệ thống còn là đọc theo lịch sử phát triển của vấn đề. Bất cứ vấn đề nào cũng có nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển trong đó nó liên quan đến nhiều vấn đề khác và bản thân nó cũng qua một quá trình đấu tranh phức tạp của mâu thuẫn nội tại, để đi đến hình thái ta thấy ngày nay.

Ta không thể chỉ bằng lòng với cách học thuộc các công thức, quy luật, nguyên lý nêu trong tài liệu, mà phải tìm hiểu thêm về nguôn gốc của những điều này, hiểu con đường mà loài người đã trải qua để đi tới những tri thức đó. Ta hiểu thêm là tất cả văn hóa của loài người, tất cả tri thức hiện nay là một đáp số đạt được qua nhiều khó khăn của những vấn đề liên quan tới đời sống vật chất và tinh thần của con người.

Muốn nắm chắc tiến hoá luận, hiểu biết được học thuyết tổng hợp về tiến hoá hiện nay, phải tìm hiểu theo thư tự, cố định luận của Cuviê, biến hình luận của Lamác, đột biến luận của Đơvriét và tiến hoá luận của Đácuyn.

Khi đọc dồn nhiều tờ báo một lúc, tốt nhất là không phải tìm tờ mới nhất để đọc mà đọc từ tờ cũ nhất, rồi lần lượt đọc các tờ khác theo thứ tự thời gian. Như vậy, đối với mọi việc nêu trong báo, ta đều có thể theo dõi được sự tiến triển của nó.

Đọc có hệ thống còn la xem xét mỗi sự vật, mỗi hiện tượng trong mối tương quan với xung quanh nó, xem xét các khía cạnh của sự vật cũng như các mặt của hiện tượng.

Theo Lênin, muốn hiểu thấu đáo một vấn đề phải nghiên cứu nó thật nhiều lần bàn luận thanh cãi về nó xem xét nó trên nhiều mặt.

Muốn hiểu biết kỹ càng về một loại cây nào đó, tất nhiên phải có kiến thức về hình thái học, phân loại học, sinh học và sinh thái học… của cây, không những của cây vùng này mà còn của vùng khác, không những cây ở thàng này, năm này, mà còn ở tháng khác, năm khác.

Tóm lại, ta phải biết cấu trúc và chức năng của cây trong không gian và thời gian.

Học có hệ thống còn là kho học một nghành khoa học phải biết cả các ngành có liên quan. Không thể học nguyên sinh học mà thiếu khái niệm cơ bản về toán học, vật lý học và hoa học. Không thể giỏi về sinh hóc học, nếu không có kiến thức về hoá học, sinh học và vật lý học.

Trong tình hình của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện nay, nhiều ngành khoa học thành hình có tính chất liên ngành như sinh thái học liên kết kiến thức về động vật, thực vật, thổ nhưỡng, khí tượng… Và có cả những lĩnh vực đa ngành như kế hoạch hoá và quy hoạch lãnh thổ đòi hỏi sự tham gia của sinh học, địa học, kinh tế học, nông học, dân số học…

Yêu cầu đăt ra từ nay về sau cho người khoa học là giỏi một ngành và biết nhiều ngành có liên quan.

Khoa học là đối lập với sự chuyên môn hoá hẹp. Một trí tuệ được tranh bi cho phát minh khoa học phải có tối đa các kiến thức trong nhiều lĩnh vực, cả những kiến thức xa với đối tượng ta quan tâm. Các nhà phát minh lớn đều có vồn kiến thức này.

Paxtơ không thể hoàn thành bao nhiêu công trình lớn về vi trùng học nếu ông chỉ có vồn kiến thức như nhiều nhà sinh học chuyên môn hẹp hiện nay.

Học có hệ thống là học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải gắn liền với thực tập.

Trong mọi qua trình đào tạo, phải bảo đảm cho sự cân đối nêu trên. Nếu coi trọng lý thuyết hơn thực tập, kiến thức sẽ không vững chắc và không thể triển khai, coi nhẹ lý thuyết, kiến thức sẽ nông cạn và không cơ bản.

Không phải không co lý do mà sinh viên hoá học phải thực tập ở các xí nghiệp hoá chất,…

Biết cách học còn là học có kế hoạch.

Học có kế hoạch trước hết là chia giáo trình thành phần, quy định thời gian dành cho mỗi phần và tìm mọi cách để thanh toán từng phần theo thời gian đã định.

Sau phần đầu phải rut kinh nghiệm để, nếu cần, điều chỉnh thời gian dành cho các phần sau thích hợp hơn.

Học có kế hoạch còn là nhằm từng vấn đề trong thời kỳ nhất định rồi đặt kế hoạch đọc sách vở, tài liệu liên can tời vấn đề đó. Khi chọn vấn đề cũng phải theo đúng trình tự lôgíc của nhận thức, nhằm những vấn đề dễ trước và vấn đề khó sau. Khi đọc tài liệu cũng phải đọc từ nông tới sâu, từ khái quát đến chi tiết.

Tìm hiểu về tế bào, ta phải chuẩn bị các tư liệu về hình thái, cấu trúc tế bào, sinh học, sinh lý học tế bào, bệnh lý học tế bào…

Muốn hiểu về cấu trúc tế bào, ta phải biết cấu trúc hiển vi của nó qua kính hiển vi quang học, rồi mới tới cấu trúc siêu hiển vi qua kính hiển vi điện tử.

Muốn hiểu sinh học tế bào, ta phải có một số kiến thức về sinh hoá các chất gluxit, lipit, prôtít,…

Biết cách học còn là biết lưu ý tới thứ tự ưu tiên của kiến thức.

Kiến thức hiện nay nhiều vô kể, chỉ riêng trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, cứ sau khoảng năm năm, lại có đổi mới một nửa số liến thức của con người. Kiến thức trong sản xuất, đời sống ngày càng tăng với trình độ công nghiệp và nông nghiệp ngày càng hiện đại, với hình thức sinh hoạt ngày càng phong phú của một xã hội văn minh. Trong khi đó, bộ nhớ của não người lai có hạn.

Vì vậy, các kiến thức cần thiết nhất cho mỗi người phải là kiến thức liên can tới nghiệp vụ hiện hành. Thí dụ, là nhà di truyền học, anh phải chú ý trước hết tới các kiến thức mới trong ngành di truyền trên thế giới và ở nước ta. Sau đó, nếu có điều kiện, sẽ mở rộng hiểu biết tới các lĩnh vực khác, trước hết, gần ngành rồi sau đó xa ngành. Khối lượng kiến thức của con người có thể coi như một số vòng tròn đồng tâm, vòng giữa là kiến thức về nghiệp vụ. Số vòng nhiều hay ít và bán kính các vòng lớn hay nhỏ tuỳ hoàn cảnh từng người.

Điểm trung tâm của vòng kiến thức phải là phương pháp luận (phương pháp tư duy, phương pháp công tác, phương pháp nghiên cứu…). Lúc này hơn bao giờ hết, phương pháp có vai trò quyết định trong kết quả công tác của từng người.

Trong tình hình kiến thức các loại ngày càng tăng theo cấp số nhân, nếu không co phương pháp, không thể xử lý đúng đắn vốn kiến thức đã có, ứng dụng chúng trong thực tế. Trước đây, người ta đã nói: Tư tưởng quyết định hết thảy. Nay ta có thể nói: phương pháp quyết định hết thảy.

Với số vốn kiến thức nhất định, phương pháp đúng sẽ dẫn tới thành công. Khối lượng kiến thức tuy nhiều nếu thiếu phương, cũng thành vô dụng.

Một hôm. Anxtanh gặp một người bạn phàn nàn chưa tìm được người giúp việc như ý muốn vì chưa đạt yêu cấu đề ra. Ông hỏi yêu cầu gì, thì được trả lời: Chỉ cần giả đáp một số câu hỏi như Nữu ước cách Sicagô bao nhiêu Kilômét? Thép không gỉ làm bằng chất gì?

Anxtanh phản đối ngay: chỉ có kẻ điên rồ mới vùi đầu học thuộc tất cả những thứ này. Theo ông, chỉ cần người giúp việc làm việc có phương pháp, thế là họ sẽ vượt mọi khó khăn trên con đường khoa học.

Hiện nay, không ít người chưa có đầy đủ kiến thức về phương pháp, vì vậy công việc thường không kết quả. Người nào đã thành công trong một số việc là do anh ta đã áp dụng phương pháp luận một cách không tứ giác, tức rút kinh nghiệm dần trong hoạt động. Nhưng kinh nghiệm không phải vạn năng như nguyên lý, quy luật. Chúng có thể đúng trong trường hợp này và sai trong trường hợp tương tự. Trong thiên nhiên, không có hai hiện tượng nào lại giống in nhau. Phải chăng nên có bài học về phương pháp luận đại cương ở các trường phổ thông và phương pháp luận chuyên ngành ở các trường đại học?

Biết cách học còn là thường xuyên ôn tập và hạch toán kiến thức.

Khi đọc các tài liệu kinh điển hay nghiên cứu các vấn đề tương đối phức tạp, Lênin chịu khó đọc đi đọc lại tài liệu nhiều lần. Theo ông, chớ có mong rằng chỉ qua một lần nói chuyện ngắn là có thể hiểu rõ một vấn đề, phải ghi các chỗ chưa hiểu, chưa rõ, ngẫm nghĩ nhiều lần, sau đó lại tiếp tục tìm hiểu thêm trong các bài giảng hay qua mạn đàm.

Kiến thức để lại những hình ảnh trong não bộ gây những biến đổi hoá học của tế bào thần kinh. Những biến đổi này không phải biến mất. Vì lẽ đó, muốn duy trì kiến thức phải thường xuyên ôn tập. Nếu không, với thời gian, hình ảnh kiến thức sẽ phai mờ dần và kiến thức sẽ rơi rụng dần rồi cuối cùng mất hẳn. Điều này lai càng rõ với những kiến thức không liên can trực tiếp tới đời sống hàng ngày.

Ôn tập giúp cho việc cố định ký ức. Càng hay kể chuyện cho người khác nghe, càng dễ nhớ câu chuyện. Nếu hai lần kể cách xa nhau vài giờ hoặc 24 giờ thì càng tốt, vì ký ức có thời gian “chín mùi”.

Học bài buổi tối chưa thuộc, để tới sáng học lại, sẽ thuộc chóng hơn.

Chúng ta cũng nên tập thói quen hạch toán kiến thức không chỉ hằng năm mà bằng tháng, thậm chí hằng ngày. Sau một ngày, một ngày, một tuần, ta tự hỏi xem đã có thêm được kiến thức gì mới lạ. Điều này sẽ giúp ta đánh giá được sự tiến bộ của trí tuệ.

Sự tích luỹ kiến thức sẽ làm nảy sinh vấn đề mới đòi hỏi phải suy nghĩ về giải pháp. Trong quá trình giải quyết vấn đề nay, rễ nảy sinh vấn đề khác. Cứ như thế, các kiến thức sẽ nhân lên. Quá trình tích luỹ kiến thức tới mức nào sẽ làm nảy sinh những ý niệm mới, đốm lửa của những sáng tác phát minh. Không ai có thể sáng tạo với bộ óc trống rỗng.

Biết cách học còn là biết tranh luận.

Hàng ngàn năm bị ý thức hệ phong kiến chi phối, mỗi chúng ta không ít nhiều, đều mang nặng đầu óc giáo lý, quá mê tín sách vở. Ta dễ dàng chấp nhận những sự kiện trong sách, và quá tin vào những ý niệm có sẵn trong đầu. Trước một hiện tượng mới lạ, ta cố tìm trong ký ức hay trong sách vở một giải pháp có sẵn và khi thấy giải thích không kết quả thì lại nghi ngờ về thực chất của hiện tượng.

Hiểu rằng điểm của mình không phải là duy nhất đúng là điều rât khó đối với đầu óc giáo lý. Họ không chấp nhận sự thảo luận và thích áp đặt ý kiến của mình cho người tranh luận và thích áp đặt ý kiến của mình cho người tranh luận. Muốn sửa chữa đầu óc giáo lý, phải tập tranh luận về sự kiện có trong sách, tranh luận về ý niệm của người khác, từ đó rèn luyện một khả năng khác quý hơn, tức là tranh luận với bản thân.

Biết tranh luận với chính mình là dấu hiệu của một trình độ trí tuệ cao.

Chân lý tuyệt đối rất tráo trở, có thể phản lại ta. Vì vậy phải học cách xử lý các ý niệm tuyệt đối lúc còn ở nhà trường. Nếu không, sớm hay muộn, ta sẽ phải đương đầu với một tình hình mà một sự kiện hiển nhiên nhất lại mâu thuẫn với công thức đã học và phủ định nó. 2 cộng với 2 là 4. Đấy là một chân lý tuyệt đối. Đúng , nếu ta cộng 2 cái que hay hai trái cây…Còn nếu ta cộng 2 giọt nước thì sao, thành một giọt hay nhiều giọt?

Nhà vật lý học khi làm thí nghiệm, gặp một hiện tượng bất ngờ chưa gặp bao giờ, không phù hợp với tính toán có sẵn. Anh ta phải nghiên cứu thêm hiện tượng này để điều chỉnh lai tính toán, chứ không được coi công thức như một chân lý khoa học, sẵn sàng bỏ qua hiện tượng bất ngờ, không phù hợp với công thức. Anh phải phân tích mâu thuẫn giữa hiện tượng và công thức và cho rằng sai lầm là ở công thức vì công thức không ứng dụng cho trường hợp này.

Nếu không quen biện luận với bản thân, thì thường quá câu nệ vào công thức trừu tượng và luôn luôn mâu thuẫn với thực tế. Lúc đó, ta sẽ phân vân giữa chân lý thực một cách trừu tượng và tính phong phú cụ thể của đời sống và không thấy đường đi. Hoặc ta sẽ phàn nàn về thực tế sinh động phát triển mâu thuẫn với giáo lý đã học và nhắm mắt làm ngơ các sự việc không phù hợp với sơ đồ có sẵn trong óc.

Mỗi chúng ta phải học cách sử dụng các kiến thức để xét đoán các mâu thuẫn trong thực tế.

Hãy làm quen việc nắm thực tế khái quát trong quá trình phát sinh của nó để điều chỉnh hay bổ sung vốn kiến thức của mình vì lẽ, theo lơi văn hào Gớt, “mọi lý thuyết đều một màu xám còn cây đời mãi mãi xanh tười”.

Hiện nay, thiếu sót trong phương pháp tự học của người thanh niên thể hiện ở nhiều mặt. Học thiều hệ thống, chỉ căn cứ vào độc một cuốn sách giáo khoa không tham khảo tài liệu có liên quan. Chọn bài ma học để đối phó với thi cử. Học thuộc lòng không suy nghĩ, không đặt lại vấn đề.

Tất cả cách tự học không khoa học trên đây, dẫn tới hậu quả là kiến thức không vững bền, không còn lại ở người học bao nhiêu sau khi ra trường, và điều quan trọng là không rèn cho người học đầu óc suy luận, một bộ phận quan trọng của trí tuệ.

Trong các dạng thông tin, đọc có tốc độ tương đối nhanh khoảng 250 từ một phút, chỉ kém có suy nghĩ với tốc độ 500 từ một phút.

Tuy nhiên, so với tốc độ phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện giờ, tốc độ 250 từ của một người có trình độ học vấn trung bình không còn hợp thời nữa. Cần tập luyện làm sao để nâng cao tốc độ lên gấp đôi, gấp ba mới bảo đảm được việc theo dõi thời sự trong nghiệp vụ của mình. Hiện nay, ở nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã thành lập một học viện huấn luyện tốc độ đọc cho con người. Sau sáu tuần, học viện có thể đạt tốc độ ít nhất 500 từ một phút.

Có nhà giáo dục học đã giới thiệu một phương pháp rèn luyện cách đọc sách để nắm vững được ý niệm và cả lời văn, nếu ta muốn, của tác phẩm.

Đọc một chương ngắn trước; đọc chậm chạp, vưa đọc vừa hình dung những ý niệm trong sách thành hình ảnh, chưa chú ý tới lời văn.

Khi đã đọc hết chương, hãy thử giải thích cho một người nghe tưởng tượng để làm cho người đó hiểu. Tiến hàng việc này trong khoảng 15 phút.

Nếu muốn rèn luyện cả câu văn, đọc lại chương đó, lần này chú ý tời lời văn. Xong rồi, gấp sách lại và theo dõi cái hình ảnh gợi ra trong óc, viết lại nội dung chương đó, sửa chữa các lỗi chính tả và văn phạm. Hãy lắp lại khoảng 10 lần tới lúc ta viết được giống như tác giả.

Liên kết đến đây

Xem thêm liên kết đến trang này.