Khoa học hóa cách suy nghĩ, làm việc, học tập/Chương 4.2

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

 Mục lục - Lời mở đầu - Chương 1 - Chương 2 - Chương 3 - Chương 4

 

Phần: 1.1 - 1.2 - 1.3 - 1.4 - 1.5 - 1.6 - 1.7 - 2.1 - 2.2 - 2.3 - 2.4 - 2.5 - 3.1 - 3.2 - 3.3 - 3.4 - 3.5 - 3.6 - 4.1 - 4.2 - 4.3 - 4.4 - 4.5 - 4.6

TRÍ NHỚ NHANH BỀN

“Trí nhớ là cái đại dương, chúng ta bơi trên đó tới tương lai của mình”

Tri nhớ là khả năng giữ được tình trạng của ý thức đã qua, khi cần tới, gợi nó lên, xác định được nó trong thời gian và không gian trước kia. Ý thức đã qua gọi là ký ức, gồm những cảm giác hình ảnh, âm thanh ghi ở não trong quá khứ.

Trí nhớ là một thuộc tính bẩm sinh bảo đảm cho sự sinh tồn của loài vật. Chim thú đều nhớ đường đi kiếm ăn, đường về tổ. Trẻ em cũng nhớ đường đi chơi, đường về nhà.

Không có trí nhớ, đới sông sinh hoạt sẽ giảm mất nhiều kinh nghiệm của dĩ vãng để hướng hành động cho tương lai. Trẻ em nhỏ đã bị bỏng về lửa, sau này không dám thò tay vào ngọn nến đang cháy. Một nhà triết học có nói: Sự nhìn trước là một trí nhớ trở ngược.

Không có trí nhớ, sẽ không có đời sống trí tuệ: Nhận thức, tưởng tượng, lập luận và lẽ phải. Trí thông minh càng phong phú và linh hoạt nếu trí nhớ càng phong phú và được rèn luyện tốt.

Yêu cầu về trí nhớ đối với người nghiên cứu cao hơn người lao động khác. Nhà khoa học phải luôn luôn liên hệ các sự kiện và tìm cách nối chúng với nhau, nên buộc phải có trí nhớ nhanh để ghi được nhiếu sự kiện xảy ra trong thời gian ngắn. Mặt khác, cũng phải có trí nhớ bền vì phải thường xuyên liên hệ so sánh sự kiện mới với sự kiện cũ.

Trong cuộc du lãm, đi quan sát một khu rừng nguyên sinh ta phải nhận biết nhanh chóng các loài cây điển hình, và sau đó lại liên hệ với cuộc du lãm trước kia trong một khu rừng thứ sinh, để thấy các điểm giống nhau và điểm sai khác.

Trí nhớ nhanh phần nào có tính bẩm sinh và tuỳ thuộc tính nhạy cảm của tế bào thần kinh. Người ta kể chuyện tiến sỹ Lê Quy Đôn, hồi còn nhỏ, đã đọc bài văn bia ở bở sông trong lúc thuỷ triều lên, và có thể đọc lại không sai một chữ, khi nước đã che lấp bia.

Nhà toán học L.Oile có một trí nhớ kỳ diệu. Trong một đêm mất ngủ, ông đã tính nhẩm trong óc luỹ thừa sáu của một trăm số đầu và rất lâu về sau, ông vẫn còn nhớ kết quả tìm được.

Nhà toán học Gausơ nổi danh là “một cuốn sách im lặng không có tên sách”; ông làm tính không bao giờ nhẩm mặc dù tính có phức tạp thế nào.

Tuy nhiên vẫn có thể tăng tốc độ bằng cách tập luyện. Thông thường, ta có khả năng đọc 250 từ một phút, nhưng có thể nhở luyện tập mà tăng tốc độ lên 500 từ và hơn nữa.

Trí nhớ bền tuỳ thuộc nhiều vào quá trình rèn luyện. Tập trung chú ý khi đọc bài giúp ta ghi sâu được hình ảnh kiến thức ở vỏ não. Ôn tập thường xuyên cũng giúp củng cố hình ảnh này.

Phải coi trọng việc ghi nhật ký, một hình thức quan trọng giúp việc củng cố kiến thức.

Nhưng dè chừng là trí nhớ máy móc, trí nhớ truyền khẩu, trí nhớ sách vở lại không tốt cho trí tuệ. Một trí nhớ các ý niệm lôn xộn, các từ không rõ nghĩa, lại thành một trở ngại cho trí thông minh hơn là trợ thủ cho nó. Loại trí nhớ này sẽ làm mất cảm giác tười trẻ, mất tính độc đáo, mất tính uyển chuyển. Một văn hào có nói: Một cái đầu tốt giá trị hơn một cái đầu đầy ắp.

Không những cần có trí nhớ trật tự, minh bạch, mà người nghiên cứu cần có trí nhớ trung thực.

Một tình trạng đã qua càng dễ nhớ lại nếu nó ghép với nhiều tình trạng khác mà một số dễ gợi lại. Một chuyên gia nhớ rất kỹ tất cả điều gì liên can tới chuyên môn của anh ta, vì kiến thức mới được ghép ngay vào mạng lưới chặt chẽ của kiến thức cũ có liên quan. Một bác học nhớ dễ dàng các sự kiện xác minh cho giả thuyết tha thiết của mình, và có thiên hướng quên những sự kiện trái với quan niệm của bản thân.

Đácuyn đã tự đặt cho mình quy tắc sau đây để giữ được tính trung thực trí tuệ: Mỗi khi, tôi thấy một sự kiện, một quan sát hay một ý niệm mới mâu thuẫn với kêt quả chung đã đạt được, tôi lưu tâm ghi chép ngay và đầy đủ, vì kinh nghiệm đã cho biết là ý niệm và sự kiện loại ấy dễ xoá nhoà trong ký ức của ta hơn các sự kiện phù hợp với quan niệm của ta.

Nói tới trí nhớ, không phải và không nên cái gì cũng ghi, cái gì cũng nhớ. Người nghiên cứu phải biết chọn lọc kiến thức cần nhớ, chủ yếu các kiến thức liên can tới lĩnh vực khoa học của mình. Não người không phải là một trường ảnh vô hạn. Muốn biết nhớ phải biết quên, nhớ những điều có ích và quên những điều vô ích.

Những cái gì có thể dễ tìm trong sách thì không cần nhớ.

Khi ở Mỹ, người ta đưa Anxtanh xem một cuốn sách ghi các câu hỏi cần thiết cho một học sinh vào đời. Khi xem đến câu hỏi về tốc độ truyền âm, ông nói: Không biết! Tôi không cần nhồi nhét vào đầu óc tôi những sự kiện mà tôi có thể tìm rễ dàng trong một cuốn từ điển bách khoa.

Một nhà triết học đã nói: Một điều kiện của trí nhớ là lãng quên…Lãng quên, trừ vài trường hợp, không phải là một bệnh của trí nhớ, mà là một điều kiện của sức mạnh và sự sinh tồn của tri nhớ.

Tơi đây có câu hỏi: Trí nhớ cần thiết cho công tác nghiên cứu, tai sao người ta kể nhiều chuyện đãng trí của các nhà bác học?

Thật ra đây chỉ là biểu hiện của sự tập trung chú ý cao độ về vấn đề nghiên cứu, làm các nhà khoa học tách biệt hẳn về mặt tâm lý với hoàn cảnh bên ngoài. Sự tập trung chú ý này rất cần thiết cho người nghiên cứu, vì từ một khối kiến thức thu được, chỉ có thể tập trung suy nghĩ, phân tích, tổng hợp mới nảy sinh ý niệm mới.

Thời cổ Hi Lạp, nhà triết học Ácsimét được nhà vua mời tới để tính toán xem cái mũ miện vừa đặt làm có bằng vàng nguyên chất hay bị trộn lẫn với bạc.

Ácsimét suy nghĩ hàng tháng chưa tìm ra giải pháp. Bỗng dưng, một buổi sáng nằm trong bồn tắm, ông thấy dìm người xuống nước thì nước trào ra ngoài, ông chợt nghĩ ra là các vật có tỉ trọng khác nhau bỏ vào nước sẽ bị một lực đẩy khác nhau của nước.

Như vậy, chỉ có việc làm hai cái mũ miện khác, một bằng vàng nguyên chất, một bằng bạc nguyên chất. Rồi so sánh lực đẩy của nước đối với hai mũ này với lực đẩy cái mũ miện đầu tiên. Nếu có sai khác, rõ ràng chất liệu có pha trộn.

Nghĩ tới đó, ông thích quá, nhảy khỏi bồn tắm, chạy ra phố không kịp mặc quần áo, miệng kêu: Ơrơca, Ơrơca (tìm thấy rồi, tìm thấy rồi).

Có thể phát hiện trí nhớ bằng cách tập luyện: học những đoạn văn, thơ nổi tiếng, quan tâm tới sức khoẻ, vì sức khoẻ là cơ sở của tri nhớ. Muốn cố định ký ức, phải hoạt động cùng lúc mắt, tai, miệng, bàn tay; tự đọc và tự viết những từ đã đọc, mình muốn nhớ.

Ôn tập là rất cần thiết; ôn tập phải cách nhau bởi khoảng thời gian. Phải sắp xếp có thứ tự các kiến thức (đọc phải có ghi chép vào phiếu, sổ tay).

Mác đã luyện trí nhớ bằng cách học thuộc lòng những bài thơ bằng thứ tiếng ông không biết.

Phải dạy cho sinh viên không chỉ bằng lòng đọc bằng mắt hay nghe bằng tai, mà luyện thói quen lập lại rõ ràng trong nội tâm những từ đã nghe hay đã đọc. Phương pháp này cho phép theo dõi tốt hơn một bài học, một bài đọc hay một cuộc hội thoại.

Liên kết đến đây

Xem thêm liên kết đến trang này.