Dịch học họ Hùng/Bài 23

Từ Thư viện Khoa học VLOS
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Dịch học họ HÙNG. bài 23


8. Cặp Quẻ: Khiêm nhường – Dự phần

Gọi tắt là Khiêm và Dự.

Kd.jpg


Sự sáng suốt nơi con người mách bảo vạn vật và xã hội phát triển theo những quy luật, các quy luật thì trường tồn và bất biến, con người không thể thay đổi một cách chủ quan, tùy tiện. Vậy công thức về sự chủ động phát triển là: Khiêm nhường – dự phần.

Muốn dự phần cùng trời và đất trong việc biến đổi vũ trụ con người phải biết tôn trọng và vận dụng các quy luật tự nhiên.

Một thành tựu đạt được luôn là sự hợp tác con người – tự nhiên. Con người không thể thay đổi quy luật nhưng có thể tác động ở đầu vào để nhận được kết quả ở đầu ra. Như thế gọi là khiêm và dự, dự chính là dự phần vào việc tái tạo vũ trụ.

A. Quẻ Khiêm hay khiêm nhường, nhún nhường = Địa/Sơn

a. Quái từ hay lời Quẻ: Khiêm – hanh, quân tử hữu chung,

tôn trọng quy luật để vận dụng nó bậc trưởng nhân cuối đời rất tốt đẹp.

Nghĩ đúng làm đúng dĩ nhiên là có thành tựu, để lại tiếng thơm muôn đời.

b. Lời tượng: Địa trung hữu Sơn quân tử giáo tư vô cùng, dung bảo dân vô cương,

quân tử ra sức dưỡng dục dân không cùng.

Tuân theo qui luật để vận dụng quy luật làm lợi cho con người, tạo ra ngày càng nhiều của cải để làm cho dân ngày một sung sướng hơn, dạy dân lễ nghĩa để phong hóa xã hội ngày một tốt đẹp hơn.

c. Lời Hào

c.1 Hào Sơ:

Khiêm khiêm quân tử dụng thiệp đại xuyên, cát.

Xã hội cũng phát triển theo qui luật, bậc trưởng nhân phải tuân theo và vận dụng quy luật để cải cách như vậy sẽ thành công tốt đẹp.

C.2 Hào nhị

Minh khiêm, trinh cát

Khiêm nhường trong sự sáng suốt, giữ mãi như vậy tốt lắm. Khiêm để tôn trọng các quy luật, minh để vận dụng các quy luật đó.

c.3 Hào tam:

Lao khiêm – quân tử cát.

Tôn trọng quy luật, vận dụng quy luật, nỗ lực làm việc không kể sự lao nhọc, bậc trưởng nhân sau cùng cũng gặt hái những thành quả tốt đẹp.

c.4 Hào tứ

Vô bất lợi, huy khiêm

Khiêm cung tới mức nổi tiếng thì có gì là không lợi.

c.5) Hào ngũ

Bất phú dĩ kỳ lân, lợi dụng xâm phạt vô bất lợi.

Khiêm ở ngôi tôn (hào ngũ) là bậc đức cao trọng vọng được mọi người tín nhiệm nể nang chỉ có quân vô đạo là không phục, để tỏ sự uy nghiêm bậc trưởng nhân phải đánh dẹp, không gì là không lợi.

c.6) Hào thượng

Minh khiêm, lợi dụng hành sư chinh ấp quốc

Hiểu rõ các quy luật biến chuyển dùng sự sáng suốt đó mà hành quân thu phục giang sơn về một mối, một quốc gia không thể năm bè bảy mối.

B. Quẻ Dự hay dự phần = Lôi / Địa

Dự Nghĩa là tham gia vào. Dự đây là cùng trời cùng đất tạo thành bộ mặt vũ trụ, tài nhân ngang hàng tài thiên, tài địa trong thế tam tài.

a. Lời Quẻ

Dự: Lợi kiến thần, lợi hành sư. Quẻ dự tạo thành bằng quẻ lôi trên quẻ địa; sấm nổ trên đất đấy chính là tượng của trống đồng.

Lợi kiến hầu nghĩa là dùng vào việc phong tước hầu. Hiện nay có những nhà nghiên cứu lịch sử cho trống đồng là một biểu tượng vua ban khi phong tước cho các công hầu, nó tựa như một loại ấn tín vậy, đặc biệt trong lễ nghi đạo hiếu của Việt Nam thì các bậc vương hầu dùng trống đồng thay mặt người dân của mình để tế tổ tiên của cộng đồng. Chữ lợi ở đây có nghĩa là: dùng để

Lợi kiến hầu: dùng trong việc phong tước hầu.

Lợi hành sư: dùng để điều quân, quân theo tiếng trống mà tiến hoặc lùi hoặc sang phải, sang trái… công hoặc thủ v.v… trống trở thành một công cụ dùng trong quân sự.

b. Lời tượng: Lôi xuất địa phấn dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.

Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.

Trống đồng còn gọi là trống sấm khi đánh để úp xuống đất nên lời tượng bảo: lôi xuất địa phấn, tiên vương tức tiên đế nhà Chu là Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công v.v…

Tác nhạc như thế rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế, nó chính là tổ tiên của văn hóa cồng chiêng ngày nay.

Nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn đang đặt câu hỏi: trống đồng dùng để làm gì hay công dụng của nó ra sao, lời quẻ và lời tượng quẻ dự đã chỉ rõ ngay 3 công dụng:

1. Trống đồng dùng như một lệnh bài sắc phong tước vị.

2. Dùng làm hiệu lệnh hành quân.

3. Dùng trong âm nhạc ở các buổi tế lễ long trọng.

Chỉ với những khám phá trên đủ khẳng định dịch học không phải là của Hán tộc, một dân tộc sống ở lưu vực Hoàng Hà không hề biết trống đồng là gì.

c. Lời Hào

c.1 Hào Sơ: Minh dự – hung

Có biết gì đâu mà cũng tham gia thực nguy hiểm, minh dự gần tương đương nghĩa với chữ làm liều. Không nắm được quy luật diễn biến cũng hành động bừa bãi rồi ... phước chủ may thày (minh là tối mò)

c.2 Hào nhị

Giới vụ thạch, bất chung nhật trinh cát.

Nghiêm cẩn không trọn một ngày, vững lòng thì tốt.

Chữ bất chung nhật ý là khẩn trương, đừng lần chần phí thời gian nữa ý hào là khi đã làm việc gì hay tham dự vào công việc gì thì phải nghiêm cẩn tức thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn thận, đấy là thái độ của nhà khoa học, thứ đến phải khẩn trương cố gắng chạy nước rút hết sức mình vì thời cơ không đợi chờ ai cả, thời gian trôi là mọi thứ khác cũng trôi đi nếu không tranh thủ thời gian coi chừng công trở thành công cốc vì đã lỗi thời.

Sau cùng khi đã tham gia vào công việc gì thì phải kiên trinh bền lòng, đừng sớm ngả chiều nghiêng kết quả sẽ không ra gì.

c.3 Hào Tam

Hu dự hối trì hữu hối. Cầu xin để được tham dự vào không mau ăn năn sẽ phải hối hận.

Tài mọn mà tham dự vào việc lớn, sức yếu mà nhận gánh thật nặng, nếu được chấp thuận cho như thế… chắc chắn rồi sẽ mang nhục vào thân vì vượt quá khả năng của mình thì làm sao hoàn thành.

c.4 Hào Tứ

Do dự đại hữu đắc, vật nghi bằng hạp trâm.

Do sự phân công và hợp tác đạt hiệu quả, không nghi ngờ gì nữa đó là kết quả của hiệu ứng tương hỗ tổng hợp.

Do cùng dự vào, đạt được cái lớn lắm không nghi ngờ gì nữa được như vậy là nhờ sự đồng tâm hiệp lực có thể hiểu thoáng hơn với ý nghĩa: bởi cùng nhau tham dự vào công việc nên đạt thành công mỹ mãn, không nghi ngờ gì nữa đó là thành tựu của sự phân công và hợp tác, không riêng một cá nhân nào mà có thể thành công như thế.

c.5 Hào ngũ:

Trinh tật hằng bất tử

Chứng nào tật ấy, chết cũng không chừa đấy là trinh tật hằng

Không hiểu ý hào trong khung cảnh chung của quẻ dự, có người dịch bệnh nan y, mãi mà không chết.

Bệnh tật dai dẳng không chết đi được.

Xin chép vào để tham khảo hào từ này rất tối nghĩa, thỏa đáng nhất có thể hiểu là: tham quyền cố vị là căn bệnh của mọi kẻ đang nắm quyền hành, ông nào cũng muốn làm vua mãi mãi, muốn trở thành trường sinh bất tử, tình nguyện được “hy sinh” mãi để dự vào việc cứu nhân độ thế… sợ nếu mình không tham gia vào nhân loại sẽ lầm than khổ sở…

c.6 Hào thượng

Minh dự, thành hữu du, vô cữu.

Sáng suốt mà hợp tác (phối hợp) việc đã thành rồi dù có biến đổi gì chăng nữa cũng không có lỗi.

Âm minh trong Hán ngữ có 2 nghĩa tối và sáng. Khi dịch sang Hán ngữ, Hào sơ là lúc khởi đầu nên còn non nớt, mù mờ cũng là minh đến hào thượng là đã đi đến tột cùng. Cũng dùng chữ minh nhưng ở đây lại là đã sáng tỏ, tức việc đã ra đâu vào đấy.

Mục lục

Liên kết đến đây

Xem thêm liên kết đến trang này.